Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh Giun Sán. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh Giun Sán. Hiển thị tất cả bài đăng

Sán dài hơn 6cm sống trong mắt suốt 2 năm

Có cảm giác nhột trong mắt và đau nhức từ đầu năm 2007 đến nay, hôm qua, chị Hà ở Quảng Nam mới được Bệnh viện Mắt TP HCM phát hiện thủ phạm là một con sán còn sống.
Các bác sĩ Bệnh viện Mắt TP HCM cho biết, bệnh nhân nhập viện trong tình trạng mắt hơi sưng. Kết quả khám cho thấy trong mắt có một con sán dài còn sống.
Cuộc phẫu thuật được tiến hành ngay sau đó, tuy nhiên trong khi mổ, con sán bị đứt thành 2 đoạn và bác sĩ chỉ mới gắp ra được phần đuôi dài 6 cm. Phần đầu sán đang được theo dõi để tiếp tục lấy ra khỏi mắt chị Hà.
Hiện mẫu sán đã được mang đi xét nghiệm để xác định chính xác tên của loại ký sinh trùng này.
Bệnh nhân cho biết, cảm giác cộm và đau dữ dội từng cơn trong mắt bắt đầu xuất hiện từ hơn một năm nay. Năm trước đó mắt đã thấy hơi nhột. Chị đã đi khám nhiều nơi ở và dù đã được chụp CT scanner, song bác sĩ của nhiều bệnh viện tại địa phương vẫn chỉ chẩn đoán chị bị viêm hoặc u trong mắt và cho uống thuốc nhưng không khỏi.
Theo các chuyên gia nghiên cứu ký sinh trùng, giun sán vốn tồn tại ở cơ thể của một số vật nuôi như chó, mèo, khỉ; có thể lây sang người bằng nhiều cách khác nhau như tiếp xúc hoặc từ phân của vật nuôi (do ruồi làm vật trung gian).
Ngoài sống ký sinh trong dạ dày hay ruột người, một số loài giun sán chọn mắt làm môi trường sống. Đối với vật nuôi, trường hợp giun sán sống trong mắt được phát hiện nhiều hơn.

 Theo suckhoegiadinh

Bệnh sán lá gan lớn

Hầu hết các bệnh do giun, sán gây nên đều có mối liên quan chặt chẽ tới đường tiêu hoá. Nói cách khác căn nguyên gây bệnh thường qua đường ăn uống mà xâm nhập vào cơ thể và gây bệnh. Bệnh sán lá gan lớn cũng có chung đặc điểm nói trên. Tuy nhiên chỉ riêng tên gọi cũng đã cho người ta có sự phân biệt với bênh sán lá gan nhỏ. Bệnh có một số đặc điểm tương đối khác biệt như mô tả dưới đây.
Căn nguyên gây bệnh
Fasciola hepatica (F.hepatica) và Fasciola gigantica (F.gigantica) là hai căn nguyên gây bệnh sán lá gan lớn. Trong khi F.hepatica chủ yếu phân bố ở châu Âu, châu Mỹ, Đông Nam châu Phi và Nhật Bản thì F.gigantica lại chủ yếu phân bố ở châu Phi, Đông Nam Á, Ấn Độ và khu vực quần đảo Hawaii. Đây là loại sán có kích thước lớn nhất trong họ sán lá, chiều dài từ 2-3cm, chiều rộng khoảng 1cm  (có lẽ đây là lý do chính để gọi là sán lá gan lớn).
Sán lá gan lớn.
Đường lây truyền bệnh sán lá gan lớn
Về bản chất có thể gọi đây là loại bệnh của các loài động vật ăn cỏ (còn gọi là động vật nhai lại) như trâu, bò, dê, cừu, hươu… (gọi là vật chủ cuối cùng  hay vật chủ chính); còn người và một số động vật khác  như lợn, chó, mèo là các đối tượng không may mắc bệnh (tạm gọi là vật chủ không may hoặc vật chủ không thường xuyên).  Nghiên cứu chu kỳ gây bệnh, chúng ta sẽ hiểu tại sao người lại có thể mắc bệnh sán lá gan lớn.
Trứng sán có trong đường mật của vật chủ chính. Sau đó trứng được đào thải ra ngoài theo phân dưới dạng trứng chưa trưởng thành. Ở bên ngoài, trứng chưa trưởng thành cần phải có môi trường nước để tiếp tục phát triển và hoàn thiện chu kỳ. Trong môi trường nước, trứng sán tiếp tục phát triển thành phôi, sau đó tự giải phóng ra ngoài dưới dạng  ấu trùng lông (trong điều kiện thời tiết mùa hè thích hợp thời gian này mất khoảng 2 tuần). Trùng lông di chuyển trong nước, tìm đến và xâm nhập vào vật chủ trung gian thích hợp là các loài ốc. Ở trong ốc, ấu trùng lông phát triển qua các giai đoạn thành bào ấu trùng và ấu trùng. Để tiếp tục chu kỳ các ấu trùng của sán lá gan lớn rời khỏi ốc bám vào bề mặt của các cây thủy  sinh như các loại rau, cỏ… Ấu trùng có ở bề mặt của các cây thủy sinh là giai đoạn có khả năng gây bệnh của sán lá gan lớn. Lúc này các loại động vật ăn cỏ ăn phải cỏ có chứa ấu trùng hoặc người không may ăn phải các loại rau, củ thủy sinh có chứa ấu trùng thì sẽ mắc bệnh sán lá gan lớn. Điểm khác biệt của sán lá gan lớn so với sán lá gan nhỏ và một số loại sán lá khác là có thể “phát huy” vai trò gây bệnh ngay sau khi thoát ra khỏi vật chủ trung gian thứ nhất là ốc chứ không đòi hỏi phải có vật chủ trung gian thứ hai.
Sau khi xâm nhập qua đường miệng, ấu trùng tới ruột non và thoát vỏ. Từ đây ấu trùng xâm nhập vào các khoang của cơ thể bằng cách xuyên qua thành ruột và nhập vào đường mật bằng cách xuyên qua nhu mô gan. Đôi khi ấu trùng tới gan bằng đường máu hoặc đường bạch huyết ở thành ruột. Ngoài gan và đường mật, ấu trùng sán lá gan lớn còn có thể xâm nhập vào phổi, tử cung, hoặc một số tổ chức liên kết. Khi đã tới được các cơ quan hay tổ chức, ấu trùng sẽ phát triển thành sán trưởng thành gây bệnh, đẻ trứng để bắt đầu chu kỳ tiếp theo.
Đặc điểm tổn thương và các biểu hiện của bệnh
Khi xâm nhập vào gan, sán lá gan lớn gây nên các tổn thương ở gan rất nặng nề mà hậu quả là chảy máu và hình thành sẹo. Sau khi sán đã xâm nhập vào đường mật, cùng với các tổn thương cơ học, các hiệu ứng của độc tố sẽ làm cho thành ống mật dày lên, đường mật giãn, tổ chức gan tổn thương thoái hóa và cuối cùng là dẫn đến xơ gan.
Ở giai đoạn sớm và trong trường hợp số lượng sán trong đường mật chưa có nhiều, các biểu hiện của bệnh sán lá gan lớn thường ít được chú ý. Các biểu hiện có thể gặp là đau vùng thượng vị, sốt, nôn, tiêu chảy, ngứa. Người bệnh có thể thấy các biểu hiện này kéo dài trong vòng vài tháng. Giai đoạn sau là các biểu hiện của tình trạng viêm túi mật hoặc áp-xe gan. Xét nghiệm máu lúc này thường có hình ảnh của một tình trạng nhiễm khuẩn với bạch cầu ưa axít tăng cao.
Chẩn đoán và điều trị
Khi người bệnh có các biểu hiện của một tình trạng nhiễm khuẩn, viêm túi mật, áp-xe gan như đã mô tả đồng thời lại có ăn rau sống, rau tái đặc biệt là ở trong vùng đang có bệnh lưu hành thì bệnh sán lá gan lớn là một bệnh cần phải nghĩ tới. Ngoài tổn thương ở gan, các tổn thương ở cơ quan khác cũng phải được quan tâm. Các xét nghiệm để hỗ trợ chẩn đoán là tìm trứng sán trong phân hoặc trong dịch tá tràng. Xét nghiệm miễn dịch và hình thái có giá trị trong chẩn đoán.
Praziquantel và các biệt dược  có tác dụng điều trị các loại sán khác rất tốt nhưng không có hiệu quả mấy trong điều trị sán lá gan lớn. Thuốc được lựa chọn trong điều trị sán lá gan lớn hiện nay là triclabendazol hoặc bithionol. Tốt nhất là khi đã thấy các biểu hiện nghi ngờ, người bệnh cần đến các cơ sở y tế chuyên khoa để được tư vấn, xét nghiệm và điều trị.
Phòng bệnh
Bởi vì ốc là vật chủ trung gian và ăn rau sống  hay ăn phải các loại cây thủy sinh là căn nguyên mắc bệnh nên biện pháp dự phòng đơn giản nhất là không ăn rau sống, các loại rau, cây thủy sinh, đặc biệt trong vùng đang có bệnh lưu hành. Biện pháp dự phòng áp dụng trong cộng đồng là quản lý, xử lý tốt phân của gia súc. Tiến hành tiêu diệt ốc trên diện rộng khi có dịch bệnh lưu hành.
BS. Nguyễn Thọ-SKDS

Nhiễm sán lá gan vì thiếu hiểu biết

Thông tin từ Viện Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng Quy Nhơn, trong 6 tháng đầu năm 2009, số bệnh nhân nhiễm sán lá gan lên đến 3.543 người, cao hơn thời điểm được coi là bùng phát dịch cách đây 3 năm (cả năm 2006 là 3.838 ca).
Theo các chuyên gia y tế, nguyên nhân khiến bệnh bùng phát là do môi trường sống và sử dụng thực phẩm không an toàn.
Có thể ký sinh trong người 15 năm
Tiến sĩ Triệu Nguyên Trung, Viện trưởng Viện Sốt rét – Ký sinh trùng- Côn trùng Quy Nhơn (Bộ Y tế) cho biết, hiện bệnh viện đang quá tải, không đủ thuốc để điều trị cho bệnh nhân. Nguyên nhân là bởi thuốc điều trị bệnh sán lá gan không có trên thị trường, mà là được cấp phát bởi Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Nhiễm sán lá gan là bệnh không phổ biến, không có công ty dược nào sản xuất thuốc. Chính vì thế, WHO đã “đặt hàng” một công ty thuốc sản xuất thuốc điều trị bệnh để cấp cho những quốc gia chưa giải quyết được bệnh này. Việt Nam là một trong số ít quốc gia có bệnh nhiễm sán lá gan.
Có thể nhiễm sán khi ăn các thực phẩm sống (Ảnh minh họa)
BS Nguyễn Nhật Lệ, Phó Trưởng khoa Khám bệnh, Viện Sốt rét –Ký sinh trùng -Côn trùng Trung ương cho biết, biểu hiện lâm sàng thường thấy ở người bị nhiễm sán lá gan lớn là đau bụng, sốt thất thường, vàng da, vàng mắt. Tuy nhiên, biểu hiện của từng người tùy theo mức độ bệnh nặng, nhẹ. Có người sốt nhẹ, cảm giác bị ớn lạnh. Nhưng có người lại sốt cao đến 39 – 40 độ. Có người đau bụng âm ỉ, có người đau quằn quại ở vùng gan và thượng vị. Do vậy, ngoài việc nhầm tưởng là ung thư gan, có người còn nhầm là mình bị đau dạ dày.
Việc chẩn đoán sán lá gan lớn khá phức tạp, vì các triệu chứng thường biến đổi và giống với các triệu chứng của các loại bệnh khác. Triệu chứng chủ yếu là đau tức vùng gan, ậm ạch khó tiêu, sốt, ngứa… Việc chẩn đoán phải kết hợp nhiều phương pháp như căn cứ vào các triệu chứng lâm sàng, xét nghiệm máu bằng công thức Elisa, siêu âm, chụp cắt lớp. Đối với sán lá gan lớn, việc xét nghiệm phân thường khó phát hiện ra vì tỷ lệ trứng trong phân rất thấp (khoảng từ 10 – 12%).
Bệnh vào từ đường miệng
Thạc sĩ Đoàn Thị Hạnh Nguyên, Trưởng khoa Khám bệnh, Viện Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng Trung ương cho biết: Cơ chế lây nhiễm bệnh sán lá gan chính là do thói quen ăn uống không vệ sinh của người dân. Sán lá gan ký sinh ở trâu, bò và lây nhiễm sang người thông qua đường tiêu hóa. Sán lá gan có trong đường ruột của trâu bò, theo chất thải của trâu, bò ra ngoài môi trường. Vì thế, ở đâu có phân trâu bò là ở đó có sán lá gan. Sán có thể bám trên rau cỏ, có thể nó có ở trong nguồn nước mương, nước ao, kênh rạch… Nhiều bệnh nhân bị nhiễm bệnh do ăn rau sống, hay do uống nước sông, suối, ao hồ…
Hiện nay, nhiều người dân vẫn giữ thói quen ăn rau sống, hoặc ăn tái các loại rau thủy sinh như rau muống, rau cần, rau ngổ, rau cải xoong, ngó sen. Do rửa không sạch ấu trùng sán sống bám trên rau, nên nhiều người bị nhiễm sán mà không hề biết. Sán lá gan khi vào người sẽ “du lịch” khắp cơ thể và đích đến cuối cùng là gan. Chúng đi xuyên qua mạch máu, rồi vào ổ bụng. Từ ổ bụng, sán xuyên qua bao gan để vào gan sinh sống.
Miền Trung và Tây Nguyên là nơi có tập quán sử dụng phân chuồng trong sản xuất nông nghiệp và phổ biến nghề chăn thả gia súc. Chính vì vậy, khi người dân không hiểu biết về cơ chế lây bệnh sán lá gan thì nguy cơ lây nhiễm bệnh là không thể tránh khỏi. Bởi vậy, trước tình trạng bệnh nhiễm sán lá gan bùng phát, ngoài việc giải quyết điều trị bệnh cho bệnh nhân, quan trọng hơn là phải làm tốt khâu tuyên truyền. Bởi hầu hết những bệnh nhân khi được hỏi đều không hiểu biết gì về cơ chế lây bệnh.
Sán lá gan lớn khi vào người có thể sống trên 15 năm. Con sán dài khoảng 2 – 3cm, rộng 1,3cm, có hình lá. Khác với sán lá gan nhỏ, khi bị nhiễm sán lá gan lớn, biểu hiện bệnh thường rầm rộ hơn, cấp tính hơn.
Một số biện pháp để phòng tránh bệnh nhiễm sán lá gan: Cách ly động vật nuôi như trâu, bò, cừu, dê… khỏi nơi ở của người. Điều trị cho động vật bị nhiễm sán lá gan và tránh chất thải của chúng vào nguồn nước. Ăn chín, uống sôi. Không ăn sống, ăn tái các loại rau thủy sinh. Không uống nước sông, suối, ao, hồ, mương, kênh rạch. Phát hiện sớm và điều trị người bệnh.

Theo suckhoegiadinh

Nhiễm giun đường ruột ở trẻ em

Nhiễm giun đường ruột là tình trạng khá phổ biến ở các nước đang phát triển trong vùng nhiệt đới, do khí hậu nóng ẩm, tập quán ăn uống, vệ sinh môi trường kém. Hậu quả của nhiễm giun đường ruột làm cho trẻ biếng ăn, chậm lớn, suy dinh dưỡng và thiếu máu.
Các loại giun thường gây bệnh ở trẻ em:
Giun đũa. ở nước ta, trẻ em bị nhiễm giun đũa chiếm tới 80-90%. Giun đũa sống ở ruột non của người, giun cái đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài gây ô nhiễm đất, nước. Qua nước, thức ăn, tay bẩn ấu trùng vào cơ thể và trở thành giun trưởng thành. Giun có thể sinh sản tới hàng trăm con trong ruột gây tắc ruột hoặc di chuyển vào đường gan – mật gây áp-xe gan. Trẻ bị nhiễm giun đũa thường đau bụng vùng quanh rốn, nôn ra giun, đi ngoài ra giun, bụng ỏng, gầy yếu. Nếu trẻ đau bụng dữ dội và kéo dài thường là biến chứng của giun như giun chui đường mật, tắc ruột…
Giun kim. Sống ở ruột già, giun cái đẻ trứng ngay ở hậu môn gây ngứa hậu môn, trẻ gãi giun qua tay lên miệng gây tái nhiễm giun rất nhanh. Khi trẻ bị nhiễm giun kim thường khó ngủ hay quấy khóc do ngứa hậu môn, thường xuyên bị rối loạn tiêu hóa, phân lỏng, có thể nhìn thấy giun kim ở hậu môn hoặc trong phân.
Giun móc. Trẻ em nhiễm giun móc chiếm khoảng 10%. Giun móc ký sinh ở tá tràng, miệng bám vào niêm mạc ruột để hút máu, trung bình mỗi ngày, một con giun móc có thể hút 0,2ml máu. Ðường lây nhiễm giun móc chủ yếu qua miệng do ăn phải ấu trùng từ rau sống, tay bẩn, đất bụi và qua da. Trẻ nhiễm giun móc thường đau bụng vùng trên rốn, phân đen, thiếu máu từ từ, da xanh niêm mạc nhợt. Trường hợp nhiễm nặng dễ gây thiếu máu nặng, suy tim và có thể tử vong nếu không được điều trị kịp thời.
Xử trí: Cần tẩy giun cho trẻ nếu xét nghiệm phân có nhiễm trứng giun hoặc khi thấy trẻ nôn ra giun, đi ngoài ra giun, ngứa hậu môn… Và khi có biến chứng giun chui ống mật, nhiễm trùng đường mật, áp-xe gan, tắc ruột do giun.
Tẩy giun bằng các loại thuốc có tác dụng trên nhiều loại giun, ít độc, ít tác dụng phụ, không cần bắt trẻ nhịn ăn, không cần phải dùng thuốc tẩy.
Mebendazol 500mg. Uống 1 lần duy nhất. Liều lượng thuốc không phụ thuộc vào tuổi và cân nặng. Không dùng cho trẻ dưới 2 tuổi và phụ nữ có thai.
Albendazol 400mg. Uống 1 lần duy nhất. Nếu nhiễm giun móc nặng có thể dùng 2 ngày liền mỗi ngày 400mg. Không dùng cho trẻ dưới 2 tuổi và phụ nữ có thai.
Phòng bệnh giun:
Tăng cường vệ sinh cá nhân
- Rửa tay sạch bằng xà phòng trước khi ăn và sau khi đại tiện.
- Ăn chín, uống nước đã đun sôi, nếu ăn rau sống phải rửa sạch.
- Không đi chân đất, tránh ấu trùng giun móc chui qua da.
Vệ sinh môi trường
- Quản lý phân chặt chẽ, sử dụng hố xí hợp vệ sinh, chỉ đi đại tiện vào hố xí, trẻ nhỏ ỉa vào bô, không dùng phân tươi để bón.
- Sử dụng nguồn nước sạch.
- Xử lý rác hợp vệ sinh.
Tẩy giun định kỳ
Tẩy giun cho trẻ trên 2 tuổi 6 tháng hoặc 1 năm 1 lần.

Theo PGS. Ðào Ngọc Diễn – Sức Khoẻ & Đời Sống

Đỉa chui vào phổi cô gái 19 tuổi

Sau hai tháng nằm trong phổi của một nữ thanh niên người dân tộc Mông, con đỉa dài hơn 15 cm mới được các bác sĩ gắp ra. Chiều 23/2, các bác sĩ của Bệnh viện đa khoa Thái An (Nghệ An) đã phẫu thuật gắp thành công một con đỉa nằm trong phổi của cô gái 19 tuổi người Mông ở xã Nhôn Mai, huyện Tương Dương, Nghệ An.
Khi được gắp ra, con đỉa to bằng ngón tay, có chiều dài gần 15 cm.
Người nhà bệnh nhân cho biết, cách đây hai tháng, trong khi đi làm rẫy, cô gái uống nước khe suối và bị đỉa chui vào cổ. Sau một thời gian ho, ngứa rát cổ họng và khó thở, gia đình đưa cô đến trạm y tế xã. Tại đây, cán bộ y tế phát hiện một con đỉa đã lớn nằm trong phổi, nhưng không thể xử lý nên chuyển bệnh nhân đến Bệnh viện đa khoa Thái An.
Ảnh: Trường Long.
Kíp mổ đang xử lý gắp con đỉa ra khỏi phổi. Ảnh: Trường Long.
Theo các bác sĩ, khi mới chui vào phổi, con đỉa này còn bé tí. Được sống trong môi trường thuận lợi nên đỉa lớn rất nhanh, mỗi khi hút no máu gây ra hiện tượng khó thở cho bệnh nhân. Sau khi được phẫu thuật, sức khỏe của bệnh nhân đang phục hồi tốt.
Năm tháng trước, các bác sĩ của Bệnh viện đa khoa Thái An cũng đã gắp thành công đỉa trong phổi cho một bệnh nhân.
Các bác sĩ khuyến cáo, hiện tượng đỉa chui vào phổi không hiếm, đặc biệt là ở miền núi, đời sống dân cư thấp, người dân có thói quen sử dụng nước khe, suối để ăn uống và sinh hoạt. Để tránh hiện tượng này, người dân cần chấm dứt việc sử dụng nước khe suối để ăn uống, tắm giặt. Nếu có những hiện tượng như ho rát cổ họng kéo dài, khó thở, ho nhiều đờm, ho ra máu, sức khỏe giảm sút… thì cần sớm đến các cơ sở y tế để khám và điều trị kịp thời.

Theo suckhoegiadinh
 
Điều Trị Cao Huyết Áp. Design by MM24/7 Templates.