Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh Tiểu Đường. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh Tiểu Đường. Hiển thị tất cả bài đăng

Bệnh tiểu đường gây rối loạn cương dương

Ở nam giới bị tiểu đường, mức độ nghiêm trọng của chứng rối loạn cương dương sẽ gia tăng khi khả năng kiểm soát đường huyết ngày càng suy yếu.
Tiến sĩ Ernani L. Rhoden và cộng sự đến từ Đại học liên bang Rio Grande do Sul (Brazil) tìm hiểu "nỗi trăn trở" của hơn 100 nam bệnh nhân tiểu đường đi khám rối loạn cương dương từ năm 2000 đến 2001. Thông qua xét nghiệm máu, nhóm nghiên cứu đã xác định được lượng glycosylated hemoglobin (HbA1c) - yếu tố đánh giá khả năng kiểm soát lượng đường huyết của cơ thể. Khả năng cương dương của người bệnh được tìm hiểu qua câu hỏi điều tra.

Sữa không béo ngăn ngừa bệnh tiểu đường

Những sản phẩm từ sữa và đã được loại bỏ chất béo có thể giúp chị em ngăn ngừa và giảm thiểu nguy cơ bị tiểu đường tuýp 2.
Kết luận này được đăng tải trên tạp chí “Chăm sóc bệnh nhân tiểu đường” do TS Simin Liu, thuộc trường Harvard, chuyên ngành Sức khỏe cộng đồng và các cộng sự thực hiện.
Liu và các cộng sự đã phân tích dữ liệu về sức khỏe của hơn 37.000 phụ nữ (độ tuổi trung niên). Ở thời điểm bắt đầu nghiên cứu, không ai bị bệnh tiểu đường cả.

Tiểu đường, một nguyên nhân gây suy thận

Bệnh tiểu đường, là khi cơ thể bạn có vấn đề về một loại hóc-môn gọi là insulin. Insulin giúp cơ thể bạn biến đổi đường (còn được gọi là glucose) thành năng lượng. Khi có vấn đề về insulin, sẽ có quá nhiều đường ở trong máu, lượng đường quá nhiều trong máu sẽ phá huỷ dần các phần của cơ thể....
Có hai loại tiểu đường:
Tiểu đường Type 1:
- Cơ thể bạn không tạo ra đủ lượng insulin
- Lượng insulin hàng ngày thiếu
- Thường xuất hiện bệnh ở trẻ nhỏ và người trẻ tuổi
- Chỉ 5% người trưởng thành bị tiểu đường Type 1
Tiểu đường Type 2:
- Cơ thể bạn không sử dụng insulin tốt
- Ăn kiêng, tập thể dục, dùng thuốc, và/hoặc tiêm insulin là biện pháp cần làm
- Bệnh thường xuất hiện ở những người trên 40 tuổi nhưng cũng có thể sớm hơn

Khám phá nguyên nhân của bệnh tiểu đường

Khám phá này được phát hiện bởi các nhà khoa học thuộc một công ty mang tên DeCode Genetics Inc. chuyên sâu trong lĩnh vực sử dụng kỹ thuật di truyền để phát hiện các nguyên nhân bệnh tật, sử dụng dân số Aixơlen như một công cụ nghiên cứu.
Aixơlen là một nơi thích hợp cho công trình nghiên cứu như vậy, bởi dân số ở đây nhỏ và thuần nhất về mặt dân tộc, hơn nữa còn đạt những kỷ lục y tế cực kỳ cao. Những phát hiện trên đã được đăng trên Tạp chí Nature Genetics.
Đối với các bệnh tiểu đường, cơ thể không thể điều tiết được lượng đường glucose, nguồn nhiên liệu chính của nó một cách thích hợp. Trong bệnh tiểu đường Type 1, cơ thể không tạo ra đủ insulin, loại hocmon giúp vận chuyển các phân tử đường từ máu vào trong các tế bào. Trong bệnh tiểu đường Type 2, cơ thể có thể tạo ra insulin, nhưng các tế bào kháng lại hành động của nó. Có khoảng 90% các ca mắc bệnh tiểu đường thuộc loại Type 2, trong đó những người thừa cân có nguy cơ mắc bệnh gia tăng.
Hàm lượng đường trong máu thường xuyên cao có thể dẫn đến nhiều biến chứng, bao gồm suy thận, mù loà và thương tổn hệ thần kinh và mạch máu.
Nhóm nghiên cứu do hai nhà khoa học Struan F.A. Grant và Kari Stefansson dẫn đầu đã tiến hành xem xét một số lượng lớn các "ký hiệu" di truyền ở 1185 bệnh nhân Aixơlen mắc bệnh tiểu đường Type 2 và 931 người không mắc bệnh. Họ đã phát hiện thấy một gen có nhiều biến thể, một biến thể tạo ra sự bảo vệ một phần chống lại bệnh tiểu đường và hai biến thể khác lại làm tăng nguy cơ một người có thể mắc căn bệnh này.
Trong số những người Aixơlen, 33% người mắc bệnh tiểu đường có chứa một trong số các biến thể "nguy hiểm" của gen nêu trên, trong khi đó chỉ có 26% những người không mắc bệnh tiểu đường có chứa một biến thể gen này. Trong mẫu của hầu hết những người Mỹ da trắng, các tỷ lệ trên là 39% và 25%.
Sử dụng một phép tính ước lượng về sự phổ biến của các biến thể gen nêu trên trong ba dân số: Aixơlen, Đan Mạch và người Mỹ da trắng, các nhà nghiên cứu tính toán rằng có khoảng 21% số người mắc bệnh tiểu đường Type 2 có thể quy cho sự hiện diện của các biến thể gen "nguy hiểm".
Loại gen được phát hiện mang tên TCF7L2 không hẳn là một yếu tố báo trước nguy cơ chắc chắn mắc bệnh tiểu đường. Những người nào có chứa các biến thể "nguy hại" của gen này có thể chống lại nguy cơ mắc bệnh bằng các biện pháp như kiểm soát trọng lượng và tăng cường luyện tập.
Theo Washington Post, 2/2006

Chung sống với bệnh tiểu đường


Lựa chọn thực phẩm
Lựa chọn thực phẩm là khâu rất quan trọng, nên được lưu tâm hàng đầu, bởi thực phẩm có tác động lớn tới tình trạng của bệnh nhân tiểu đường.
Nên ăn nhiều thực phẩm có chứa tinh bột (như bánh mì, ngũ cốc, và các loại rau củ quả có chứa nhiều tinh bột như khoai tây, hạt đậu).
Các chuyên gia khuyên bạn mỗi ngày ăn 6 phần ngũ cốc hoặc hoa quả thuộc nhóm trên. Các loại rau củ có thể luộc, xào hay hầm tuỳ sở thích. Thậm chí rau xanh sấy khô cũng vẫn có thể phát huy tác dụng.
Ngoài ra, có thể bổ sung thêm các loại thực phẩm chức năng như cà rốt, đậu đen, ngô cho món salad hay món thịt hầm.
Các chất xơ tự hoà tan được cũng đem lại hữu ích cho bệnh nhân tiểu đường, giúp giảm đáng kể hàm lượng đường trong cơ thể. Chất xơ có chủ yếu trong trái cây và rau xanh hoặc các loại hạt. Các loại thực phẩm chế biến từ đậu là những thực phẩm điển hình thuộc nhóm trên.
Ngược lại, nên hạn chế ăn đồ ngọt và các thực phẩm có nhiều đường (chỉ nên ăn tối đa 1-2 lần/ tuần).
Khống chế trọng lượng
Trọng lượng là vấn đề rất cần được quan tâm đối với bệnh nhân mắc tiểu đường, đặc biệt tiểu đường tuýp 2.
Béo phì đồng nghĩa với dư thừa chất béo trong cơ thể. Vừa béo phì vừa mắc tiểu đường tuýp 2 là điều kiện thuận lợi cho hàm lượng insulin tăng trong máu. Các chuyên gia khuyên bạn nên bằng cách này hay cách khác “ tiêu bớt” 10- 20g chất béo trong cơ thể để cải thiện tình hình.
Nếu bạn là “đệ tử” của thuốc lá, việc điều trị bệnh sẽ gặp bất lợi. Người có tiền sử mắc bệnh tiểu đường thường bị máu dồn xuống chân. Hút thuốc là nguyên nhân chính khiến máu dồn xuống nhiều hơn. Trong trường hợp xấu, đôi khi phải dùng đến thủ thuật cắt cụt chân.
Không chỉ dừng lại ở đó, hút thuốc lá còn có thể khiến đàn ông “bất lực”. Khi hút thuốc, hàm lượng LDL cholesterol (cholesterol xấu) tăng kéo theo khả năng mắc các bệnh tim mạch, đột quỵ cũng tăng.
Cẩn thận với đường, chất béo, và cácbonhydrat
Cơ thể chúng ta có khả năng hoà tan nhiều loại thức ăn khác nhau theo những tỷ lệ khác nhau: Mất từ 5 phút đến 3h để tiêu hoá cacbon-hydrat (có nhiều trong khoai tây), 3-6h để tiêu hóa protein và phải mất 8h hoặc hơn để “ tiêu thụ” hết.
Đó là lý do tại sao các loại thức ăn khác nhau có những ảnh hưởng khác nhau tới hàm lượng đường trong máu (ví dụ ăn kem sẽ làm tăng hàm lượng đường trong máu nhanh hơn so với ăn khoai tây).
Tuy nhiên, bệnh nhân tiểu đường không nhất thiết phải kiêng vĩnh viễn đồ ngọt. Có điều bạn nên hạn chế và ăn có điều độ.
Bệnh tiểu đường thường có “quan hệ mật thiết” với bệnh tim, vì thế rất nên hạn chế ăn chất béo. Các chuyên gia khuyên bạn chỉ nên “nạp” 30% chất béo mỗi ngày so với tổng số calo cần cho cơ thể. Và nhớ rằng, đó không phải là các chất béo bão hòa.


Sourse: Dantri.com

Điều trị tiểu đường bằng bài thuốc đông y

Bài thuốc đông y trị bệnh tiểu đường type 2 đang thu hút sự quan tâm của nhiều người. Bài thuốc đã được thử nghiệm thành công từ năm 2002 tại Viện Y học Cổ truyền Việt Nam.

Bác sĩ chuyên khoa cấp 2 Vũ Thị Kê - Trưởng khoa Nội A (Bệnh viện Y học cổ truyền Hải Dương), Chủ nhiệm đề tài "Đánh giá tác dụng thuốc hỗ trợ điều trị bệnh tiểu đường type 2" bằng bài "Bát vị tri bá gia giảm" cho biết, bài thuốc là đề tài khoa học do Bệnh viện Y học cổ truyền Hải Dương thực hiện năm 2003 - 2004. Đề tài đã được Hội đồng khoa học nghiệm thu ngày 4-6-2005 . Trên thực tế, đây là đề tài nhánh nằm trong đề tài cấp Nhà nước "Điều tra dịch tễ học bệnh tiểu đường" do Tiến sĩ Tạ Văn Bình - Giám đốc BV Nội tiết T.Ư làm chủ nhiệm đề tài.

Được biết, bài thuốc trên dựa trên bài thuốc cổ chữa bệnh tiểu đường đã có trong sách y học của Việt Nam từ thời xưa để lại.
Tuy nhiên, bài thuốc này mới chỉ được thử nghiệm độc tính trên chuột bạch và thỏ trong mấy năm gần đây. Kết quả cho thấy thuốc không có phản ứng phụ, không xảy ra tai biến trong suốt thời gian điều trị. Trước khi được thử nghiệm tại Bệnh viện Y học cổ truyền Hải Dương, năm 2002, bài thuốc trên đã được áp dụng thử tại Viện Y học Cổ truyền Việt Nam trên vài trăm bệnh nhân trong thời gian 90 ngày cho kết quả tốt.

Chủ nhiệm đề lài là PGS.TS Dương Trọng Hiếu, lúc đó là Trưởng phòng Kế hoạch Tổng hợp (Bệnh viện Y học cổ truyền Việt Nam) đã cho phép bác sĩ Vũ Thị Kê áp dụng công thức của bài thuốc "Bát vị tri bá gia giảm" vào công tác điều trị bệnh tiểu đường tại Bệnh viện Y học cổ truyền Hải Dương. Năm 2003, bác sĩ Kê thử nghiệm điều trị cho 71 bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường type 2 tại Bệnh viện Y học cổ truyền Hải Dương.

Thời gian điều trị trung bình 46 ngày/bệnh nhân. Bệnh nhân cao tuổi nhất là 71 và ít tuổi nhất là 38. Trong số 71 người thử nghiệm thuốc đợt đầu tiên, người có chỉ số đường huyết cao nhất là 15, thấp nhất là 8. Sau 90 ngày điều trị, kết quả có 36 bệnh nhân (50,7%) ổn định bệnh, 35 bệnh nhân (49,3%) đỡ bệnh. Trong quá trình điều trị bệnh nhân được kết hợp chế độ ăn kiêng và không dùng các loại thuốc khác.
Sau khi kết thúc giai đoạn thử nghiệm, Bệnh viện Y học cổ truyền Hải Dương tiếp tục điều trị được trên 70 bệnh nhân góp phần giảm số người mắc bệnh tiểu đường type 2 ở tỉnh Hải Dương - một tỉnh có nhiều người mắc tiểu đường type 2 tại Việt Nam. Tuy nhiên, bác sĩ Kê cũng khẳng định, bệnh tiểu đường type 2 không thể chữa khỏi, chỉ dừng lại ở mức ổn định vì nếu người bệnh ăn uống không kiêng khem bệnh sẽ tái phát vì đây là dạng bệnh do rối loạn chuyển hóa. Người bệnh có trọng lượng lớn, đặc biệt là người bị béo phì thuốc sẽ có tác dụng tốt hơn người có thể trạng gầy.

Bác sĩ Kê cho biết, sau khi bệnh nhân đã điều trị ổn định bệnh, chỉ số đường huyết trở về mức 7, người bệnh nên duy trì uống thuốc thêm 1 -2 tháng.

Đặc biệt, người bệnh tiếp tục chế độ ăn kiêng để tránh tái phát bệnh. Ăn nhiều ổi, bí xanh, táo nho và hoa quả không chứa nhiều đường là biện pháp hữu hiệu để duy trì sự ổn định của bệnh tiểu đường. Bên cạnh đó, người bệnh nên hạn chế ăn nhiều chất bột và tuyệt đối kiêng bia rượu. Hiện nay thuốc đã được sản xuất đại trà và bán rộng rãi tại Hải Dương. Bác sĩ Kê cho hay, Bệnh viện Y học cổ truyền Hải Dương đang chuẩn bị hợp tác với một cơ sở sản xuất trong TP Hồ Chí Minh để sản xuất loại thuốc này.

Bài thuốc gồm các vị: Sinh địa 12 g, Sinh hoàng kỳ 12 g, Sơn thủ nhục 8 g, Tri mẫu 10 g, Bạch linh 8 g, Thiên hoa phấn 8 g, Ngũ vị tứ 8g, Đan bì 8g, Trạch tá 8g, Thạch cao 12g, Mạch môn 12g. Thuốc được sản xuất trên dạng cao lỏng 100ml/túi, ngày uống 2 túi trước bữa ăn 1 giờ. Giá thuốc sắc là 10.000 đồng/thang, thuốc cao có giá 14.000 đồng/túi. Bệnh nhân có thể mua thuốc trực tiếp tại Bệnh viện Y học cổ truyền Hải Dương, phường Hải Tân, TP Hải Dương. Liên lạc qua điện thoại để được tư vấn theo số (0320) 861436-854756. Hoặc, gọi cho bác sĩ Vũ Thị Kê: 0912820695

Chế độ luyện tập của bệnh nhân tiểu đường

Hoạt động thể lực, tập thể dục đều đặn là việc làm rất tốt cho người bệnh đái tháo đường giúp cho cơ thể tiêu thụ đường dẽ dàng hơn làm giảm lượng đường máu, do đó có thể làm giảm liều lượng Insulin hoặc một số thuốc hạ đường máu khác. Hoạt động thể lực làm tăng tiêu thụ năng lượng, giảm nguy cơ béo phì, cải thiện tình trạng hoạt động cảu các cơ quan, nâng cao tình trạng sức khoẻ toàn cơ thể, tinh thần hoạt bát, sảng khoái tăng sức đề kháng với các stress bất lợi.
Nguyên tắc:
  • Luyện tập phải từ từ và thích hợp
  • Phải được phép của thầy thuốc về mức độ và thời gian luyện tập
  • Phải đề phòng hạ đường huyết khi luyện tập.
  • Không tham gia luyện tập khi đang mắc các bệnh cấp tính, đường máu quá cao, xêtôn máu tăng cao, xêtôn niệu dương tính nặng.
Các chế độ luyện tập có thể áp dụng:
  • Đi bộ
  • Chạy bộ nhẹ nhàng
  • Đạp xe đạp chậm
  • Bóng bàn, bóng rổ (20 - 30 phút).
  • Nâng tạ nhẹ
Các hoạt động trên có thể kết hợp với các động tác thư giãn như tập thể dục nhẹ, tập các động tác mềm dẻo như uốn mình, các động tác cúi đầu, xoay cổ… hoặc các bài dưỡng sinh.
Các hoạt động thể lực nặng hơn như chạy tốc độ, đi bộ nhanh, bơi, tennis, đạp xe tốc độ … phải được phép của bác sỹ.

Một số loại thuốc điều trị bệnh tiểu đường

Insulin
Insulin là một nội tiết có khả năng làm hạ đường máu bằng cách giúp đường vào trong tế bào để sản sinh ra năng lượng cung cấp cho mọi hoạt động của cơ thể. Insulin được tế bào Bêta của đảo tuỵ Langerhans tiết ra. Để tiện sử dụng ngày nay người ta đã sản xuất ra các dạng Insulin khác nhau như insulin đường xịt qua niêm mạc mũi, đương tiêm truyền thống (dưới da, bắp thịt hãy tĩnh mạch). Đối với đường tiềm, hiện nay trên thị trường có tới trên 20 loại và chia ra loại nhanh, bán chậm và siêu chậm có màu sắc khác nhau để dễ phân biệt, trong đó loại nhanh thường có màu trong và thường được sử dụng trong cấp cứu hoặc dùng để pha trộn phối hợp với các loại insulin khác. Trong điều trị người ta khuyên không nên dùng loại có tác dụng nhanh trước khi đi ngủ đề phòng cơ hạ đường huyết máu trong lúc ngủ.
Khi điều trị bằng Insulin, bệnh nhân hoàn toàn theo sự chỉ định của thày thuốc, không được tuỳ tiện tăng, giảm hay ngừng thuốc. Không có công thức chung về liều lượng cho tất cả bệnh nhân mà tuỳe thuộc vào lượng đường trong máu, trong nước tiểu của từng người để chia liều và phối hợp các loại insulin với nhau (nhanh, bán chậm hoặc siêu chậm) để đạt được hiệu quả điều trị tốt nhất.

Những người buộc phải sử dụng Insulin là:
  • Người được chẩn đoán là đái tháo đường tuýp 1.
  • Đái tháo đường thai nghén.
  • Đái tháo đường tuýp 2 ở những trường hợp sau:
  • Có bênhk ý gan, thận, chống chỉ định với thuốc viên hạ đường máu
  • Đang mắc các bệnh nhiễm trùng cấp tính, trước và trong phẫu thuật…
  • Khi dùng thuốc không có tác dụng điều chỉnh được đường máu.
Các thuốc hạ đường máu bằng đường uống:
Có nhiều loại thuốc uống có tác dụng hạ đường máu, ngày nay có năm nhóm thường dùng là:
  • Các thuốc nhóm Sulphamid hạ đường máu: hiện nay thường sử dụng các thuốc thế hệ thứ 2 như Gliclazid (Diamicron viên 80 mg hoặc Diamicron MR viên 30 mg), Glimepiride (Amaryl viên 5 mg), Glyburide…
  • Nhóm Meglitinide
  • Nhóm Biguaniade: ngày nay thường sử dụng Metformin thuốc phổ biến là Glucophage viên 500 mg, 850 mg, 1000 mg.
  • Nhóm ức chế men alpha - Glucosidase: thuốc phổ biến là Glucobay viên 50, 100 mg.
  • Nhóm Thiazolidinedione: thuốc đang dùng là Rosiglitazone và Pioglitazone.

Điều chỉnh chế độ ăn uống ( bệnh tiểu đường )

Đây là biện pháp điều trị rất quan trọng, bất kể bệnh nhân đái tháo đường ở tuýp nào, ở giai đoạn nào của bệnh, có điều trị bằng thuốc hay không đều phải tuân thủ chế độ ăn nghiêm túc. Có thể nói chế độ ăn hợp lý cho bệnh nhân đái tháo đường sẽ làm cho diễn biến của bệnh tốt lên, hạn chế được biến chứng. Ngược lại, nếu bệnh nhân không tuân thủ chế độ ăn uống nghiêm chỉnh thì dù có được điều trị bằng thuốc gì cũng không điều chỉnh được đường máu.
Có thể chỉ điều trị đơn thuần bằng chế độ ăn như trong đái tháo đường mức độ nhẹ, đái tháo đường ở các giai đoạn chưa có triệu chứng lâm sàng hoặc kết hợp thuốc hạ đường máu với chế độ ăn thích hợp ở đái tháo đường ở mức độ vừa và nặng. Về nguyên tắc, chế độ ăn phải bảo đảm đầy đủ chất, đảm bảo tỷ lệ đạm, đường, mỡ, cần thiết cho cơ thể, gần với hoàn cảnh sinh lý. Đường chiếm 50 - 60%; đạm chiếm 16 - 20%; mỡ chiếm 24 - 30% số lượng calo chung của khẩu phần. Nếu có béo phì thì phải giảm từ 10 - 20% lượng calo chung. Thông thường người bệnh đái tháo đường nên ăn từ 4 đến 6 bữa trong ngày. Các bữa ăn chính cần bảo đảm là sáng, trưa, chiều và bữa tối trước khi đi ngủ với lượng calo tỷ lệ theo các bữa là 30, 25 và 15% lượng calo. Nếu bệnh nhân có điều kiện có thể bố trí thêm các bữa ăn phụ vào giữa sáng (9 - 10h), bữa giữa chiều (16 - 17h).
Một số điểm cần chú ý đối với chế độ ăn cho người bị bệnh đái tháo đường là:
Không có chế độ ăn chung cho tất cả mọi người bị bệnh đái tháo đường mà tuỳ theo hoàn cảnh kính tế, sở thích, giai đoạn của bệnh mà tự mỗi người đề ra chế độ ăn phù hợp cho mình với sự tham gia tư vấn của thầy thuốc.
Giữ lịch các bữa ăn đúng giờ, chỉ ăn thịt tối đa (trong khuôn khổ cho phép) trong 2 bữa, cac bữa còn lại ăn rau và các sản phẩm ngũ cốc.
Phải tôn trọng nguyên tắc chế độ ăn uống là: thức ăn đa dạng, nhiều thành phần. Ăn đủ để có trọng lượng vừa phải. Hạn chế chất béo, đặc biệt là mỡ động vật. Có lượng chất xơ vừa phải. hạn chế ăn mặn. Tránh các đồ uống có rượu.
Chế biến thức ăn ở dạng đồ luộc và nấu là chính, không rán, rang với mỡ.
Không bỏ bữa, ngay cả khi không muốn ăn.
Khi cần ăn kiêng và hạn chế số lượng, phải giảm dần thức ăn theo thời gian. Khi đạt mức yêu cầu, nên duy trì một cách kiên nhẫn, không bao giờ được tăng lên.
Nên có bữa ăn phụ trước khí đi ngủ.

Các loại thức ăn nên chọn:
  • Các loại bánh mì không pha trộn với phụ gia.
  • Gạo, mỳ sợi (số lượng ít), tấm xay.
  • Sữa đã được lọc chất béo, sữa chua và pho mát không bơ.
  • Lòng trắng trứng gà.
  • Các loại thịt nạc (thị dê, bò, thịt thú rừng nạc).
  • Thịt ga, chim bỏ da.
  • Các loại cá (cá béo bỏ da).

Thức ăn nên hạn chế:
  • Bánh mì trắng, ngọt
  • Gạo lức, bánh ngọt nhân hoa quả
  • Các loại cá béo chứa nhiều mỡ
  • Thịt dê, cừu.
  • Bơ thực vật
  • Rau quả đóng hộp
  • Các nước hao quả đậm đặc, nước khoáng có đường.
  • Các loại quả ngọt
  • Cà phê, chè (số lượng vừa phải)
  • Chất ngọt nhân tạo
Thức ăn cần tránh:
Đường (trừ lượng cho phép), mật, các loại bánh ngọt, kẹo sô cô la, mứt, các loại nước quả có đường.
Các loại mì chính, bột ngọt, bánh có đường và chất béo chế biến công nghiệp.
Sữa thô chưa chế biến và các loại sản phẩm chứa sữa thô.
Thịt nhiều mỡ như thịt lợn, thịt cừu, xúc xích lợn, mỡ, gan, thận, phổi …
Các loại hải sản chứa nhiều mỡ, cá nheo, cá tra, sò, ngao, cua bể.
Lòng đỏ trứng gà.
Ngỗng, ngan vịt.
Bơ, mỡ đông lạnh
Khoai tây rán các loại
Các loại quả ngọt sấy khô.
Các loại đồ uống có rượu, nước giải khát có đường coca cola, pepsi…
Chú ý: Việc ăn kiêng cần phải được dựa trên chỉ số đường máu của người bệnh. Nếu đường máu hạ thấp thì việc ăn kiêng là không cần thiết.

Điều trị bệnh tiểu đường

Bệnh đái tháo đường là bệnh gây nên do tổn thương tế bào tiết Insulin nên người bệnh cần phải được điều trị bằng chế độ ăn và bằng thuốc Insulin suốt đời đối với tuýp 1, hoặc chế độ ăn và các thuốc hạ đường máu hay Insulin đối với tuýp 2.
Nếu điều chỉnh được nồng độ đường máu gần với mức sinh lý bình thường, bệnh nhân sẽ sinh hoạt và làm việc bình thường.
Phải điều trị song song bệnh đái tháo đường và các biến chứng do bệnh gây ra. Điều trị bệnh tốt, điều chỉnh được liều thuốc thích hợp sẽ làm giảm biến chứng của bệnh.
Điều trị bệnh đái tháo đường bao gồm chế độ ăn uống, thuốc hạ đường máu và tập luyện.

Tiến triển của bệnh tiểu đường

Đái tháo đường có hai loại biến chứng là biến chứng cấp tính và mãn tính:
Biến chứng cấp tính:
Là những biến chứng xảy ra đột ngột, diễn biến nhanh, dễ đe doạ mạng sống của người bệnh nếu không được cấp cứu kịp thời.

Biến chứng hạ đường huyết máu:
Là biến chứng hay gặp do người bệnh thực hiện chế độ ăn quá khắt khe hoặc do dùng thuốc quá liều. Để dự phòng biến chứng này, người bệnh cần thực hiện đầy đủ các chỉ dẫn của thày thuốc, không nên tiêm Insulin tác dụng nhanh vào buổi tối, tránh thay đối đột ngột trong sử dụng thuốc. Người bệnh nên có bữa ăn phụ trước khi đỉ ngủ và luôn mang theo mình y bạ hoặc thẻ có ghi rõ họ tên, căn bệnh, thuốc đang sử dụng để đề phòng khi có hôn mê sẽ có thông tin phục vụ cho việc cấp cứu. Những triệu chứng báo trước của hôn mê hạ đường máu là người bệnh có cảm giác cồn cào, vã mồ hôi, bủn rủn chân tay…
Nhiễm toan xê tôn và hôn mêm do nhiễm toan xê tôn:
Là tình trạng nhiễm độc do máu bị toan hoá vì tăng nồng độ acid axetic, thường gặp ở người đái tháo đường tuýp 1, đây là sản phẩm của những chuyển hoá dở dang do thiếu Insulin gây ra. Nguyên nhân chính dẫn đễn hôn mê do nhiễm toan xêtôn là do người bệnh tự ý giảm liều Insulin và không thực hiện chế độ ăn kiêng. Những dấu hiệu báo trước có nhiễm toan xêtôn là chán ăn, khát và uồng nhiều hơn, lượng nước tiểu nhiều hơn ngày thường, rát họng, đau đầu, đau bụng, đỏ da, đại tiện phân nát hoặc lỏng và đi nhiều lần trong ngày.
Cách phòng tránh tốt nhất là biết tự kiểm tra, theo dõi bệnh, thực hiện đùng chế độ điều trị, sinh hoạt và không tụ ý thay đổi liều Insulin đang dùng.
Hôn mê do tăng đường máu hay hôn mê tăng áp lực thẩm thấu:
Thường gặp ở người đái tháo đường tuýp 2 thể béo. Nguyên nhân do dùng thuốc không đủ liêu, thức ăn có nhiều đường, chần thương tinh thần, không luyện tập…
Những triệu chứng báo trước: khát nhiều gây uống nhiều nước hơn bình thường. Đói nhiều hơn bình thường. Da khô hoặc có cảm giác ngứa không rõ nguyên nhân. Mệt mỏi hoặc ngủ nhiều hơn bình thường.
Cách phòng tránh hôn mê do tăng đường máu hay hôn mê tăng áp lực thẩm thấu là thực hiện chế độ ăn uống, chế độ luyện tập, sử dụng thuốc theo đúng hướng dẫn của bác sỹ, khàm bệnh theo định kỳ đẻ điều chỉnh liều thuốc sử dụng.
Biến chứng mạn tính
Người bị đái tháo đường thường gặp những biến chứng mạn tính nguy hiểm sau:
Bệnh lý mạch máu lớn:
Đái tháo đường thúc đẩy quá trình vữa xơ động mạch tiến triển nhanh; tăng hiện tượng tắc mạch do huyết khối; tổn thương mạch vành gây nhồi máu cơ tim, tổn thương mạch máu não gây đột quỵ, tổn thương mạch máu ngoại vi mà hay gặp nhất là mạch máu chi dưới; gây hoại tử dẫn đến cắt cụt chi.
Tổn thương mạch máu nhỏ:
Tổn thương võng mạc gây mù loà, tổn thương tiểu cầu thận gây suy thận, tổn thương các dây thần kinh với biểu hiện bệnh thần kinh cảm giác, vận động và tự chủ.
Là cơ địa thuận lợi cho bệnh nhiễm trùng phát triển
Gây bất lực tình dục hoặc các rối loạn tình dục khác
Cách phòng chống tốt nhất các biến chứng mạn tính là quản lý tốt nồng độ đường máu, luôn giữ nộng độ đường máu ở mức bình thường. Nên khám bệnh theo định kỳ để phát hiện sớm các biến chứng nếu có. Cần thực hiện tốt lời khuyên của thày thuốc.

Biến chứng của bệnh tiểu đường

1. Hư răng:
Bệnh này dễ gây đau nứơu răng do đóng vôi, và nhiễm trùng. Miệng lưỡi hay khô và hôi miệng. Bệnh nhân phải khám răng định kỳ thường xuyên, đánh răng cho kỹ và nhất là không hút thuốc lá.


2. Hư mắt (diabetic retinopa-thy):
Mắt mờ chưa chắc là đã cần thay kiếng, nhưng rất có thể là do đường trong máu quá cao vào lúc đó. Hạ lượng đường trong máu xuống có thể giúp thị lực khá ngay. Những mạch máu nhỏ dễ nghẽn và bị bể trong lòng mắt (retina) là nguyên nhân chính gây ra mù lòa tại Mỹ. Chúng ta nên để ý những triệu chứng như là mắt mờ, thấy chấm đen trước mặt, đau mắt, nhìn thấy cái gì cũng hai hình cả, đèn chớp chớp trước mắt (flashing lights), hay không nhìn thấy những hai phía bên cạnh. Những người bệnh tiểu đường cũng hay dễ bị cườm nước (glaucoma) và cườm khô (cataract). Những năm đầu vừa mới bị tiểu đường thì thường không có triệu chứng, nhưng chúng ta cũng phải đi khám mắt ít nhất mỗi năm một lần để bác sĩ có thể phát hiện sớm những thay đổi trong retina và chữa trị cho đúng cách.


3. Hư thận (diabetic nephropa-thy):
Tiểu đường là một trong những nguyên do chính làm hư thận tại Mỹ, với khoảng 4000 trường hợp ở giai đoạn cuối (end stage renal disease) được phát hiện mỗi năm. Tiểu đường loại 1 chóng bị hư thận hơn loại 2. Ðuờng lưu thông cao trong máu lâu ngày sẽ làm hư những mạch máu nhỏ, dẫn đến hư thận. Khi thận bị hư hoàn toàn bệnh nhân sẽ cảm thấy rất mệt mỏi, người bị phù, khó thở, mê sảng vào giai đoạn cuối vì do thận không lọc nước tiểu và các chất độc và dơ trong máu do cơ thể phát ra. Áp huyết sẽ lên cao. Một khi thận bị hư hại hoàn toàn chỉ còn cách duy nhất để duy trì tính mạng là dùng máy lọc thận (dialysis). Thử nước tiểu đo microalbumin thường xuyên hàng năm sẽ giúp bác sĩ phát hiện sớm để kịp thời chữa trị làm cho thận hư chậm lại. Dùng thuốc để giữ cho lượng đường luôn luôn càng gần mức bình thường, giữ áp huyết cho dưới 130/80, ăn uống bớt chất đạm và ăn nhạt là điều tối cần thiết để bảo tồn chức năng thận.


4. Tai biến mạch máu:
Bệnh nhân rất dễ bị chứng nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não làm bán thân bất toại đa số là do bị bệnh mỡ cùng với áp huyết cao mà bệnh nhân tiểu đường hay gặp phải. Thống kê cho thấy là 65% tử vong ở bệnh nhân tiểu đường là do tai biến mạch máu mà ra. Nguyên nhân chính là mỡ, đường lâu ngày làm nghẽn và cứng các động mạch khiến cho máu không lưu thông tới được các bộ phận cần thiết. Bệnh nhân phải để ý đến những triệu chứng như là khó thơœ, mệt, đổ mồ hôi, đau ngực khi làm việc hơi nặng. Bàn chân lạnh tím, hay đau bắp vế chân khi đi bộ, mất lông chân là những triệu chứng nghẽn mạch dẫn máu về chân. Kiềm giữ lượng đường ở mức tốt (hba1c dưới 7%) sẽ giúp giảm tyœ lệ nguy cơ biến chứng. Thể dục hay thể thao thường xuyên, tránh béo phì, uống thuốc chống mỡ cao, hạ áp huyết, không hút thuốc, uống một viên Aspirin 81 mg mỗi ngày.


5. Ðau hệ thống thần kinh (diabetic neuropathy) gồm có 2 loại:

Peripheral neuropathy:
Tiểu đường càng lâu thì càng dễ bị, thường ảnh hưởng nhiều nhất ở phía dưới chân, gây đau nhức từ đầu gối trở xuống bàn chân vào ban đêm, như kiến bò hay kim đâm, hay tê hẳn, có thể đau ở bàn tay. Bắp thịt có thể bị teo,yếu dần, khó cử động. Mắt cũng có thể bị tê liệt. Vì do tê, mất cảm giác, nên bệnh nhân dễ bị lở loét dưới bàn chân do đi đạp phải vật nhọn hoặc cọ sát bởi đôi giầy chật, rồi từ đó gây nhiễm trùng và có thể bị cưa chân. Bệnh nhân cần phải kiểm soát bàn chân mỗi tối trước khi đi ngủ, mặc quần ống cho thoaœi mái và nên tham khảo với bác sĩ gia đình hoặc bác sĩ Bộ Khoa (podiatrist) nếu có triệu chứng gì khác lạ.
Autonomic neuropathy: Bệnh nhân sẽ bị xáo trộn nhịp tim, huyết áp chạy không đúng gây ra chứng chóng mặt (postural hypotension), tiêu chảy táo bón bất thường, buồn nôn mửa, đi tiểu khó khăn, khô âm đạo và nhất là bị chứng liệt dương. Bệnh nhân liệt dương bây giờ đỡ khổ hơn lúc trước nhiều, vì có thuốc chữa trị khá hiệu quả. Nên tham khảo với bác sĩ.
6. Ðau chân (foot problems): Hội chứng đau chân rất là thông thường ở bệnh tiểu đường do mạch máu không lưu thông và giây thần kinh hư (diabetic neu-ropathy), rồi từ đó gây ra lở loét (ulcer) dưới bàn chân và làm hư thối (gangrene). Chúng ta phải để ý nếu vết thương nhỏ nơi chân không lành. Nếu để tới giai đoạn gangrene thì chỉ còn cách là cưa chân để chặn đứng lại sự nhiễm trùng. Bệnh nhân cũng hay bị nấm dưới chân (athlete foot) làm ngứa ngáy, khó chịu, nấm trong móng chân làm đau ngón chân và có thể bị mất móng chân. Khô da chân, hay chai da dưới bàn chân (corns, calluses) cũng dễ gây ra lở loét mà chúng ta cũng cần phải để ý. Nếu chúng ta bị tiểu đường thì mỗi khi đi bác sĩ nên cởi hết vớ giày ra để khám. Chớ nên đi chân không ngoài đường, bãi biển, trong vườn, dễ bị cắt đứt da khi đạp phải vật nhọn vì cảm giác không còn, gây ra nhiễm trùng. Nên mang giầy tốt, khít khao, tắm rửa chùi khô bàn chân, thị sát bàn chân mỗi ngày là những điều phải làm để tránh hậu quả. Cũng phải thường xuyên gặp bác sĩ Bộ Khoa để được khám và chữa trị cho tường tận.

7. Ðường quá cao (Hyperglycemic hyperosmolar non ketotic coma):
Là một hội chứng hay gặp phải ở người già trên 60, tiểu đường loại 2 mà đang bị một bệnh gì khác như nhiễm trùng đường tiểu, viêm phổi, bị stress, bệnh tim, chaœy máu ruột, hư thận, stroke. Bệnh nhân sẽ khát nước và đi tiểu rất nhiều trước khi trở nặng vào nhà thương, sẽ mê man vì thiếu nước nặng, lượng đường trong máu có thể lên tới cả ngàn. Trường hợp này có thể nguy hiểm đến tính mạng nếu không vào nhà thương kịp. Tiểu đường loại 1 cũng có hội chứng tương tự (diabetic ketoacido-sis) gặp phải ơœ những ai không cẩn thận trong vấn đề ăn uống, chích thuốc Insulin không đúng cách, sai liều hoặc không chích hoặc đang bị một bệnh nào khác làm cho cơ thể không đủ insulin dù vẫn chích cùng liều như mọi lần. Bệnh nhân thường là giới trẻ, sẽ ói mửa, đau bụng, khát nước và đi tiểu, xuống cân do mất nước, có thể bị hôn mê. Ðường trong máu sẽ lên tới vài trăm (400-600), có ketones trong máu và nước tiểu. Cả hai trường hợp trên đều phải vô nhà thương để tiếp nước, chích insulin và tìm chữa bệnh đi kèm.


8. Ðường quá thấp (hypo-glycemia, dưới 70 mg/dl):
Thường xảy ra ở những ai bỏ bữa ăn, ăn xái giờ mà vẫn uống thuốc hoặc chích insulin, exercise quá độ hôm đó, hay uống rượu hơi nhiều. Bệnh nhân sẽ bất ngờ như muốn xỉu, nhức đầu, tay chân bủn rủn, toát mồ hôi lạnh, hoa mắt, có thể té bất tỉnh, giựt kinh phong. Nếu còn tỉnh táo để có thể uống một ly nước cam hay ăn một miếng bánh thì sẽ khỏe lại ngay. Bệnh nhân tiểu đừơng, nhất là những ai phải nsulin thì lúc nào cũng nên có một miếng bánh, cục kẹo, trái cây trong cặp hoặc trong xe để ăn liền khi gặp trường hợp trên. Bệnh nhân cũng nên có một thuốc chích gọi là glucagon để sẵn ở nhà, đề phòng trường hợp bị hôn mê không biết trời trăng để ngậm kẹo, thì người thân sẽ dùng thuốc này chích để cho lượng đường lên cấp tốc, hầu cứu sống họ. Nếu đường thấp hay xảy ra thường xuyên thì nên cho bác sĩ biết để điều chỉnh lại thuốc hay gặp nhà dinh dưỡng để được cố vấn về cách ăn uống.


9. Bệnh ngoài da:
Bệnh nhân dễ bị da khô do mất nước vì đi tiểu nhiều, ít mồ hôi vì đau giây thần kinh đặc biệt là mồ hôi nơi chân. Da bị ngứa ngáy làm bệnh nhân gãi, rách da và từ đó làm nhiễm trùng, gây mụn nhọt. Bệnh nhân mập mạp thường hay bị nấm chỗ háng, nách và dưới vú nếu là đàn bà. Da bị nấm sẽ đỏ rát, có mụn nước, đau đớn, ngứa ngáy rất là khó chịu (candidiasis). Chúng ta phải để ý làn da nhất là ở phía dưới chân thường xuyên, xem xét những chỗ bị đỏ, đổi màu, mọc mụt nước làm ngứa ngáy, đều có thể gây nhiễm trùng.

Biểu hiện của bệnh tiểu đường

Biểu hiện bệnh:

Các biểu hiện thường gặp:
  • Người bệnh ăn nhiều, cảm giác thèm ăn tăng lên
  • Uống nước nhiều, luôn có cảm giác khát nước.
  • Đái nhiều
  • Gầy sút nhanh mặc dù ăn nhiều
  • Mồm khô, da khô, mệt mỏi
  • Nước tiểu đậm đặc hơn, có thể gặp nước tiểu có kiến bâu, ruồi đậu (vì trong nước tiểu có đường), nếm nước tiểu có vị ngọt.
Có thể thấy một số biểu hiện khác như:
  • Hay bị sẩn ngứa ngoài da, hay có mụn nhọt, hay bị nhiễm trùng ngoài da và khó lành
  • Dễ bị viêm quanh rằng và tiến triển nhanh đến răng lung lay nhiều, rụng răng do viêm quanh răng.
  • Dễ bị vữa xơ động mạch dẫn đến nhồi máu cơ tim, tắc mạch não, tác mạch chi dưới gây hoại tử đầu chi…
  • Dễ bị viêm phôi, viêm phế quản.
  • Dễ bị viêm đường tiết niệu, có proteid niệu (viêm xơ tiểu cầu thận do đái tháo đường), tăng huyết áp và suy thận.
  • Đục thuỷ tinh thể là dấu hiệu xuất hiện tương đối sớm dẫn đến giảm thị lực và mù loà.
  • Cảm giác dị cảm đầu chỉ, kiến bò kim châm, đau trong cơ và thường biểu hiện ở các phần xa của chi, các ngón, hay xuất hiện vào ban đêm.

Bệnh tiểu đường và thai nghén

Tiểu đường và thai nghén bao gồm hai loại, một là phụ nữ khi có thai đã bị mắc bệnh tiểu đường từ trước, hai là bệnh lý tiểu đường do thai nghén gây ra. Loại thứ hai xuất hiện khi có thai và thường khỏi sau khi sinh, một số ít để lại di chứng tiểu đường kéo dài.
Tiểu đường là một bệnh lý về rối loạn chuyển hóa glucid, biểu hiện bằng tình trạng tăng lượng đường trong máu, nếu cao quá có thể xuất hiện đường trong nước tiểu, đây là bệnh của các nước phát triển.
Nguy cơ đầu tiên có thể xảy ra đối với thai nhi phải kể đến là thai bất thường. Loại này hay gặp ở những người mẹ bị mắc bệnh tiểu đường có sẵn từ trước. Ngoài nguy cơ thai dị dạng, còn có các nguy cơ khác như sảy thai, thai chết lưu, thai suy mạn tính, thai kém phát triển, đẻ non tháng, đa ối cấp, đa ối mạn tính...
Thai to cũng hay gặp và thường được đề cập nhiều nhất trong trường hợp mẹ bị tiểu đường (bao gồm cả hai loại). Nhưng ở những trường hợp này, mặc dù thai to nhưng rất yếu, dễ bị rối loạn chuyển hóa và mắc các bệnh trong thời kỳ sơ sinh cũng như rất dễ bị nguy cơ hạ đường huyết sau sinh.
Bên cạnh biến chứng hạ đường huyết sau sinh, trẻ sơ sinh còn có thể bị hạ calci huyết nhưng nguy cơ này ít gặp và ít nguy hiểm hơn. Đó là các nguy cơ đối với thai nhi, còn với người mẹ, ngoài những nguy cơ biến chứng của tiểu đường như rối loạn chuyển hóa, nhiễm khuẩn, tổn thương thận, mắt thì về mặt sản khoa, người mẹ còn dễ có nguy cơ bị nhiễm độc thai nghén, tiền sản giật.
Vậy phát hiện và xử trí như thế nào?
Tiểu đường do thai nghén gây nên lại thường xảy ra ở tuổi thai từ tuần thứ 24 trở đi. Chính vì vậy, ở các nước phát triển người ta tiến hành sàng lọc một cách hệ thống tất cả các phụ nữ mang thai ở độ tuổi thai từ 24-28 tuần hoặc ít ra cũng sàng lọc ở những người có nguy cơ cao như những phụ nữ béo phì, lớn tuổi (trên 35 tuổi), tăng cân nhiều trong lúc có thai (bình thường tăng khoảng 12kg), thai to hoặc tiền sử gia đình có người bị tiểu đường.
Khi đã phát hiện mắc bệnh tiểu đường, người mẹ cần tuân thủ nghiêm ngặt chế độ ăn theo sự hướng dẫn của bác sĩ (chế độ ăn ngoài việc cung cấp dinh dưỡng cho mẹ cũng cần một lượng calo để nuôi dưỡng thai nhi phát triển), thường là chế độ ăn hạn chế glucid.
Ngoài việc theo dõi về tình trạng tiểu đường của người mẹ, cũng cần theo dõi sự phát triển của thai nhi, siêu âm có thể giúp phát hiện sớm những dị dạng. Sau khi sinh người mẹ cần được theo dõi chặt chẽ về tình trạng tiểu đường, chế độ ăn giảm glucid, đặc biệt sản phụ dễ bị nguy cơ nhiễm khuẩn hậu sản. Sản phụ cũng cần được khám lại về nội tiết xem tình trạng tiểu đường đã ổn định hay chưa, đặc biệt là tiểu đường thai nghén vì loại này có thể chuyển sang tiểu đường béo phì sau này.


Theo Sức khỏe & Đời sống

“Khắc tinh” của bệnh tiểu đường

Tạp chí sức khoẻ Men’s Health vừa công bố những thực phẩm là “khắc tinh” của bệnh mắc tiểu đường. Nhờ tác dụng gián tiếp của những loại thực phẩm này, bệnh tình sẽ thuyên giảm và cơ thể có sức đề kháng tốt với bệnh tiểu đường.
1. Táo
 [Image]
Nghiên cứu của các nhà khoa học Phần Lan cho thấy, tỷ lệ nam giới thường xuyên ăn táo và những thực phẩm chứa nhiều quercetin tử vong do mắc bệnh tiểu đường và bệnh tim mạch thấp hơn 20% so với những người mắc bệnh nhưng ít hoặc không thường xuyên ăn táo.

Quercetin chứa nhiều trong những thực phẩm: hành tây, cà chua, các loại rau xanh…

2. Nhục quế (vị thuốc Đông y)

Trung tâm nghiên cứu Dinh dưỡng Mỹ phát hiện, ăn nhục quế thường xuyên và liên tục sẽ kích thích lượng đường trong máu nhanh chóng chuyển hoá thành năng lượng.

Họ đã tiến hành thực nghiệm trong suốt 40 ngày trên một nhóm tình nguyện viên. Kết quả cho thấy việc dùng nhục quế hằng ngày sẽ giúp đường huyết của người bệnh ổn định, đặc biệt là sau bữa ăn, lượng đường không tăng quá nhanh. Tình trạng tim mạch cũng được cải thiện rõ rệt.

3. Cam, quýt
 [Image]
Cơ thể những người mắc tiểu đường thường thiếu vitamin C do đó cần thường xuyên bổ sung loại vitamin này. Tuy nhiên, nên hạn chế việc dùng những viên nén vitamin C để bồi bổ cơ thể mà nên tận dụng nguồn vitamin C có trong những thực phẩm tự nhiên như cam, quýt…

4. Cá biển

Nguy cơ phát bệnh tim mạch ở những người mắc tiểu đường thường cao hơn gấp 3 lần so với những người bình thường. Do vậy, việc nạp nhiều thực phẩm chứa axit béo Omega-3 sẽ giúp ngừa nguy cơ tim mạch. Loại axit béo này có tác dụng làm giảm đáng kể lượng cholesterol có hại, thay vào đó là những cholesterol có lợi.

5. Thực phẩm nhiều chất xơ

Nghiên cứu của một trường đại học thuộc bang Texas, Mỹ, cho thấy, thường xuyên nạp khoảng 24-50g chất xơ mỗi ngày, lượng đường trong máu sẽ giảm rõ rệt.

Thực phẩm giàu chất xơ: trái cây, rau xanh, các loại họ đậu, gạo nếp, bánh mỳ, đại mạch… Đặc biệt là các loại họ đậu, chúng chứa hàm lượng chất béo thấp, ít calo, nhiều chất xơ và protein, do đó có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường và bệnh tim.

6. Trà xanh
 [Image]
Nghiên cứu cho thấy, ăn nhiều thực phẩm giàu chất béo, ít rau xanh, lười vận động đều là những nguyên nhân cơ thể dễ mắc các chứng viêm mãn tính, tạo cơ hội cho  bệnh tiểu đường và tim mạch gia tăng.

Trà xanh có chứa nhiều flavnoids có tác dụng hữu hiệu trong việc tiêu viêm, nâng cao sức đề kháng cho cơ thể. Từ đó có tác dụng hạn chế nguy cơ mắc tiểu đường và bệnh tim.

7. Thịt bò

Thịt bò (đặc biệt là thịt nạc) chứa nhiều axit linoleic tổng hợp (CLA) có tác dụng cải thiện chức năng chuyển hoá lượng đường trong máu, ngoài ra còn có tác dụng chống ung thư.

Các nhà khoa học Anh đã tiến hành thực nghiệm về tác dụng của thịt bò với bệnh tiểu đường trên 180 tình nguyện viên. Kết quả cho thấy, những người thường xuyên ăn thịt bò hoặc những thực phẩm giàu CLA sau một năm cân nặng có thể giảm khoảng 9%, nguy cơ mắc tiểu đường cũng giảm 40%.

8. Socola đen
 [Image]
Trường ĐH Tufts ở Boston, Mỹ đã tiến hành nghiên cứu và phát hiện thấy, trong socola có chứa loại chất đặc biệt phần nào giúp ngăn ngừa và trị bệnh tiểu đường tuýp 2. Ngoài ra, sử dụng socola đen hợp lý cũng có tác dụng làm giảm huyết áp, giảm lượng cholesterol, cải thiện chức năng của huyết quản.

Phạm Hằng
Theo People

Cách phát hiện bệnh tiểu đường

Như mọi bệnh chứng khác, tiểu đường cũng biểu hiện qua triệu chứng lâm sàng và kết quả xét nghiệm. Nếu chỉ dựa vào dấu hiệu bệnh lý kinh điển như thường được mô tả theo kiểu “3 nhiều” - ăn nhiều, uống nhiều và tiểu nhiều - thì sẽ bỏ sót nhiều trường hợp tiểu đường.
Đơn giản vì khi bước vào thế kỷ 21, căn bệnh này đã biến thể nên ít khi xuất hiện với hình ảnh bệnh lý lớp lang thứ tự như trong sách vở.
Nếu chỉ dựa trên đặc tính một thời của bệnh tiểu đường là người bệnh càng lúc càng khát nước, càng gầy mòn, đến độ thầy thuốc Đông y đặt tên cho căn bệnh này là chứng “tiêu khát”, thì càng dễ lầm vì nhiều người mắc bệnh tiểu đường tuy có thể uống nước nhiều hơn bình thường nhưng không hề ốm o, mà trái lại, béo phì! Khó hơn nữa cho việc chẩn đoán là tiểu đường trong nhiều trường hợp lại biểu lộ một cách âm ỉ với các triệu chứng đánh lạc hẳn hướng định bệnh như đau vai, đãng trí, mất ngủ, mệt mỏi, thay đổi cá tính..., khiến bệnh nhân mất nhiều thời gian do điều trị không đúng hướng. Do đó, không lạ gì những trường hợp phát hiện bệnh quá trễ do chỉ dựa vào triệu chứng lâm sàng.
Nếu không thể trông cậy vào tiêu chí chủ quan, cách tốt nhất là tiến hành xét nghiệm ngay cả khi không có dấu hiệu nghi ngờ. Thông thường, trong nước tiểu không có chất đường, thận chỉ bài tiết chất đường trong nước tiểu khi trong 24 giờ trước đó lượng đường trong máu cao hơn 180mg.
Như thế, nhiều người bị bệnh tiểu đường vẫn không có đường trong nước tiểu nếu đường huyết tuy tăng cao nhưng dưới 160mg. Thử đường trong nước tiểu tuy là phương pháp đơn giản, rẻ tiền và tiện lợi cho người bệnh nhưng không chính xác để định bệnh và không trung thực để theo dõi bệnh, ngoại trừ giá trị báo động cho người đã bị bệnh là đường huyết đã tăng cao, nếu như người bệnh không có phương tiện xét nghiệm nào khác.
Nếu theo định nghĩa, tiểu đường là bệnh lý do tăng lượng đường trong máu thì biện pháp cơ bản để xác minh căn bệnh này là phương pháp đo đường huyết. Trị số bình thường của đường huyết dao động trong khoảng 80-110mg. Cần lưu ý là nhiều phòng xét nghiệm áp dụng một đơn vị đo lường khác là mol (1 mol tương đương 1,8mg). Như thế, gọi là nghi ngờ bệnh tiểu đường khi lượng đường trong máu cao hơn 120mg hay 65 mol. Cho đến nay, đo đường huyết trong tĩnh mạch lúc bụng đói vẫn là phương pháp phổ biến. Phương pháp này tuy vậy không có giá trị tuyệt đối, vì:
- Chỉ phản ánh lượng đường trong máu vào thời điểm xét nghiệm. Không thể khẳng định bệnh nhân không bị bệnh tiểu đường khi trị số xét nghiệm trong định mức bình thường nếu chỉ thử máu theo kiểu “xuân thu nhị kỳ”, vì không ai dám quả quyết là lượng đường trong máu hôm qua cũng bình thường!
- Lượng đường trong máu lúc sáng sớm có thể tăng cao hơn bình thường, dù người thử máu chưa bị bệnh tiểu đường- có thể do nhịn đói suốt đêm trước, lo lắng suốt đêm hay ngày hôm trước đã dùng thuốc có tác dụng phụ làm tăng đường huyết.
Do đó, không thể dựa vào kết quả của một lần xét nghiệm để khẳng định, chẩn đoán một cách hời hợt. Trong tiến trình theo dõi bệnh tiểu đường trên người đã bị bệnh cũng vậy. Không thể đánh giá diễn tiến của bệnh nếu chỉ dựa vào vài kết quả thử máu.
Trong trường hợp nghi ngờ, cũng như để giảm tối đa độ ngờ của kỹ thuật xét nghiệm, nhiều thầy thuốc đặt nặng giá trị vào phương pháp đo đường huyết sau khi ăn. Với người không bị bệnh, cho dù có ăn ngọt bao nhiêu thì đường huyết vẫn trở về định mức bình thường trong vòng 2 giờ sau bữa ăn. Đường huyết càng cao sau bữa ăn và càng chậm trở về trị số bình thường cho thấy bệnh tiểu đường càng nặng.

Bên cạnh đó, còn một số xét nghiệm đặc hiệu, như HbA1C có độ chính xác không chỉ hơn nhiều lần phương pháp đo đường huyết trong tĩnh mạch mà còn thể hiện mức độ ổn định của đường huyết trong nhiều tuần trước thời điểm xét nghiệm. Trị số bệnh lý của HbA1C càng cao chứng tỏ đường huyết đã dao động rất nhiều trong thời gian trước đó. Nếu thầy thuốc quên, bệnh nhân nên cố nhớ để mạnh dạn yêu cầu nhà điều trị tiến hành thử nghiệm này nhằm có cái nhìn trung thực về diễn biến của bệnh tình thay vì tự “ru ngủ” với một vài kết quả xét nghiệm may mắn trong định mức bình thường.
Nói chung, phát hiện bệnh tiểu đường với phương tiện chẩn đoán hiện nay không khó, trừ khi: Không ít thầy thuốc bỏ sót căn bệnh này mỗi khi khám bệnh vì chưa đánh giá đúng mức mối nguy của bệnh tiểu đường; rất nhiều người bệnh cố tình tránh né sự thật, từ chối tầm soát với suy nghĩ “thà không biết thì thôi”. Tiểu đường vì thế vẫn còn là căn bệnh nặng!

Việt Báo (Theo_24h)

Những bài thuốc hay chữa bệnh tiểu đường

Tiểu đường đang là căn bệnh phổ biến hiện nay. Bên cạnh việc chữa trị bằng Tây y, chúng tôi xin giới thiệu một số bài thuốc Đông y để bạn đọc tham khảo và lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp.
Bài thuốc từ dâm bụt
Tên khoa học: Hibiscus Rosa-sinensis. Họ Bông (Malvaceae). Tên gọi khác: xuyên cận bì, bạch hoa, mộc cẩn căn. Cây mọc ở dưới chân núi nơi trảng nắng, ven lộ, quanh vườn, đình, được trồng ở khắp nơi để làm hàng rào, bờ giậu.
Hoa hái từ tháng 7 - 10, loại bỏ tạp chất phơi hoặc sấy khô. Vỏ rễ hái vào mùa thu, rửa sạch phơi khô, xắt thành sợi.
Hoa dâm bụt có vị ngọt nhạt, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, lợi thấp, lương huyết.
Vỏ rễ: Có vị ngọt đắng, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, lợi thấp, sát trùng, trị ngứa.
Liều dùng: Hoa 6 - 12g. Vỏ rễ 3 - 10g.
Một số bài thuốc chữa tiểu đường:
Bài 1: Rễ dâm bụt tươi 30 - 60g. Sắc uống thay nước trà.
Bài 2: Rễ dâm bụt tươi 60g, thịt heo 60g, đăng tâm thảo 20g, hầm lấy nước uống.
Bài 3: Rễ dâm bụt tươi 15g, hoài sơn 30g. Sắc uống.
Vỏ dưa hấu
Tên khoa học: Citrullus Vulgaris Schrad. Họ Bầu Bí (Cucurbitaceae). Tên gọi khác: Thủy qua, tây qua bì.
Thu hái và chế biến vào mùa hạ. Dùng dao gọt lớp vỏ bên ngoài, phơi hay sấy khô.
Vỏ dưa sau khi ăn xong dùng dao gọt bỏ lớp vỏ quả và lớp thịt quả, để riêng phơi khô. Khi dùng rửa sạch.
Tính năng: Vị ngọt, tính hơi hàn, có tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu, giáng áp.
Liều dùng: 10 - 30g.
Người bên trong có hàn thấp nhiều không nên dùng.
Để chữa tiểu đường có thể áp dụng cách sau:
Vỏ dưa hấu, câu kỷ tử 30g, đẳng sâm 10g, sắc uống.
Rễ cây chối già
Tên khoa học: Musa Paradisiaca. Họ chuối (Musaceae). Tên gọi khác: Ba tiêu đầu.
Thu hái và chế biến: Đào rễ cây chuối già, dùng tươi hay thái phiến phơi khô.
Tính năng: Vị ngọt nhạt, tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt lợi tiểu, lương huyết, tán ứ, chỉ thống, giáng áp.
Liều dùng: 30 - 120g.
Người tỳ vị hư nhược không được dùng.
Một số bài thuốc chữa tiểu đường:
Bài 1: Rễ chuối già tươi 60g, mật ong vừa đủ. Đem rễ chuối già giã nhỏ vắt lấy nước cốt hòa mật ong, chia uống 3 lần trong ngày.
Bài 2: Rễ chuối già khô 30g, thiên hoa phấn 30g, sắc uống.
Bài 3: Rễ chuối già tươi 150g, giã vắt lấy nước uống.
Lá ổi
Tên khoa học: Psidium guyjava. Họ Sim (Myrtaceae). Tên gọi khác: phan đào diệp, phan cẩm diệp.
Thu hái và chế biến: Lá hái vào mùa hạ, thái nhỏ phơi hoặc sấy khô.
Quả: Hái lúc quả chín, ép lấy nước.
Tính năng: Vị ngọt chát, tính bình, có tác dụng thu liễm chỉ tả, tiêu viêm chỉ huyết, hạ đường huyết.
Liều dùng: Khô 10 - 15g, tươi 15 - 30g.
Người tiêu chảy do nhiệt không được dùng.
Chữa tiểu đường:
Bài 1: Lá ổi 30g (tươi 50g), sắc uống thay nước trà.
Bài 2: Lá ổi, lá bạch quả 15g, râu ngô 30g sắc uống.
Bài 3: Quả ổi tươi ép lấy nước, mỗi lần uống 30ml, 2 lần/ngày.
Bài 4: Lá ổi non 50g, lá sa kê tươi 100g, trái đậu bắp tươi 100g. Nấu nước uống cả ngày.

Theo kinhtenongthon

Bệnh nhân tiểu đường nên ăn gì?

Theo BS CKII. Đinh Thị Kim Liên, Trưởng khoa dinh dưỡng BV Bạch Mai, chỉ số đường huyết của người bệnh tiểu đường bị ảnh hưởng rất nhiều do chế độ ăn vì vậy hiểu biết và áp dụng một chế độ ăn khoa học là hết sức cần thiết...
Giữ đường huyết trong khoảng an toàn cho phép

Người bị tiểu đường phải kiểm soát được đường huyết kể cả trước và sau bữa ăn, không làm tăng đường máu nhiều sau ăn và đường máu cũng không được hạ lúc xa bữa ăn.

Theo hiệp hội tiểu đường Hoa Kỳ, đối với bệnh nhân tiểu đường nên duy trì đường huyết ở mức sau : Trước ăn: 90-130 mg/dl ( 5,0- 7,2 mmol/l ); sau ăn 1- 2h: < 180 mg/dl ( 10mmol/l )

Để làm được điều này, người bệnh cần tuân thủ những nguyên tắc sau:

- Phải ăn uống điều độ, đúng giờ, không để quá đói nhưng cũng không ăn quá no.

- Nên chia nhỏ bữa ăn (ít nhất 4 bữa). Người bệnh cũng nên ăn bữa phụ buổi tối để tránh hạ đường huyết ban đêm.

- Không nên thay đổi quá nhanh và nhiều cơ cấu cũng như là khối lượng của các bữa ăn.

Lưu ý chỉ số đường huyết của thực phẩm

Một số loại thực phẩm sau khi ăn có khả năng làm tăng đường huyết. Khả năng làm tăng đường huyết của thực phẩm được gọi là chỉ số đường huyết của loại thức ăn đó. Người bệnh cần lưu ý, dù các loại thức ăn có lượng glucid bằng nhau nhưng sau khi ăn thì lại có mức độ làm tăng đường huyết khác nhau.

Những loại thức ăn có chỉ số đường huyết thấp khi ăn rất có lợi với bệnh nhân tiểu đường, giúp người bệnh có thể dễ dàng kiểm soát được đường huyết. Sau khi ăn những thực phẩm này, đường huyết người bệnh chỉ bị tăng ít và tăng rất từ từ.

Ngược lại, những thực phẩm có chỉ số đường huyết cao sẽ làm đường huyết người bệnh tăng nhanh và tăng cao. Do vậy người bệnh tiểu đường nên chọn thực phẩm có chỉ số đường huyết thấp để sử dụng.

Tuy nhiên, người bị bệnh tiểu đường vẫn có thể dùng các thực phẩm chỉ số đường huyết cao nhưng cần hạn chế và khi ăn nên phối hợp với các thực phẩm có chỉ số đường huyết thấp, đặc biệt với thực phẩm có nhiều chất xơ.

Thực phẩm có lợi cho bệnh nhân tiểu đường

Căn cứ vào bảng chỉ số đường huyết của thực phẩm dưới đây, người bệnh tiểu đường có thể lựa chọn thực phẩm để vừa đảm bảo dinh dưỡng, vừa kiểm soát được đường huyết sau bữa ăn.

Bảng1: Các thực phẩm có chỉ só đường huyết ³70 (cao )
Tên thực phẩm
Chỉ số đường huyết
Bánh mì trắng
100
Bánh mì toàn phần
99
Gạo trắng, miến, bột sắn
83
Gạo giã dối, mì
72
Dưa hấu
72
Đường kính
86
Khoai bỏ lò
135

Bảng 2: Các thực phẩm có chỉ số đường huyết từ 50-70 ( trung bình)
Tên thực phẩm
Chỉ số đường huyết
Chuối
53
Táo
53
Cam
66
Soài
55
Sữa chua
52
Kem
52
Bánh qui
55-65
Khoai lang
54
Khoai sọ
58
Khoai mì (sắn)
50
Củ từ
51

Bảng 3: Các thực phẩm có chỉ số đường huyết <50  (Thấp)
Tên thực phẩm
Chỉ số đường huyết
Cà rốt
49
Đậu hạt
49
Đậu tương
18
Lạc
19
Anh đào
32
Mận
24
Nho
43
Lúa mạch
31
Thịt các loại
<20
Rau các loại
<20

Theo DanTri
 
Điều Trị Cao Huyết Áp. Design by MM24/7 Templates.