Hiển thị các bài đăng có nhãn Ung Thư Tử Cung. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ung Thư Tử Cung. Hiển thị tất cả bài đăng

Cà phê giảm ung thư tử cung

Phụ nữ uống nhiều cà phê có ít nguy cơ mắc bệnh ung thư tử cung. Theo hãng tin AFP, các chuyên gia thuộc Trung tâm Ung thư quốc gia thuộc Bộ Y tế Nhật Bản đã theo dõi 54.000 phụ nữ tuổi từ 40 đến 69 trong 15 năm.
Trong thời gian đó, 117 phụ nữ mắc bệnh ung thư tử cung. Họ nhận thấy những phụ nữ uống nhiều hơn 3 tách cà phê mỗi ngày có nguy cơ mắc bệnh thấp hơn 60% so với những người uống cà phê ít hơn 2 lần mỗi tuần. Theo các nhà nghiên cứu, có thể cà phê giúp hạ thấp mức insulin, nhờ đó giảm rủi ro mắc bệnh ung thư tử cung.


T.Q
Theo: thanhnien.com.vn

Vắc xin phòng ung thư cổ tử cung là “cứu cánh” cho phụ nữ

Việc cho phép lưu hành vắc xin phòng ung thư cổ tử cung vào Việt Nam, với chị em phụ nữ đó là tin mừng, bởi ung thư cổ tử cung là căn bệnh mà bất cứ người phụ nữ nào cũng có nguy cơ gặp phải. Tuy nhiên, hiện vẫn có những ý kiến khác nhau về tác dụng của loại vắc xin này đối với phụ nữ ở những độ tuổi khác nhau và với phụ nữ đã quan hệ tình dục. 
 
Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với GS.TS Phương Mai (Cố vấn, Vụ Bảo vệ Bà mẹ - Trẻ em, Bộ Y tế), người đã nhiều năm nay tiếp cận với những phụ nữ bị ung thư cổ tử cung (CTC) và nghiên cứu khá sâu về vấn đề này.
*Thưa Giáo sư, vừa qua việc xác định được virus HPV là nguyên nhân gây ung thư cổ tử cung, làm cơ sở cho việc sản xuất vắc xin phòng ung thư cổ tử cung đã được trao giải Nobel 2008, đến nay trên thế giới đã có những chế phẩm nào để phòng căn bệnh ung thư CTC này, công dụng của các chế phẩm đó ra sao?
- Ung thư CTC là gánh nặng đối với chị em phụ nữ trên thế giới và Việt Nam vì hàng năm tỉ lệ tử vong do bệnh này rất cao, có được những giải pháp để ngăn ngừa ung thư CTC cho chị em phụ nữ là điều lý tưởng. Nhà khoa học người Đức Harald zur Hausen đã phát hiện ra mối liên quan giữa HPV và ung thư cổ tử cung, tạo nền tảng cho các hãng dược phẩm nghiên cứu và bào chế vắc xin phòng HPV (virus papilloma ở ngườI). Trên thị trường hiện nay có 2 loại vắc xin được cung cấp bởi 2 hãng là vắc xin Cervarix của hãng GlaxoSmithKline (Anh) phòng ngừa được ung thư do 2 tuýp HPV 16 và 18, và vắc xin Gardasil của hãng Merck Co. (Mỹ) sản xuất có tác dụng phòng ngừa với tuýp HPV- 6,11,16 và 18. Những loại vắc xin này ra đời là mang lại lợi ích rất nhiều cho người phụ nữ. Bản thân tôi là nhà phụ khoa, chuyên điều trị cho bệnh nhân thấy rằng những trường hợp ung thư nếu phát hiện sớm thì có thể cứu sống được nhưng nếu phát hiện muộn thì tỉ lệ cứu sống rất thấp, phòng và phát hiện sớm cho chị em phụ nữ là điều lý tưởng.
[Image]
GS.TS Phương Mai (Cố vấn, Vụ Bảo vệ Bà mẹ - Trẻ em, Bộ Y tế),  
Trong các tuýp phòng ngừa được bởi 2 loại vắc xin nói trên, tuýp HPV-16, 18 là nguy cơ cao gây ung thư cổ tử cung, còn tuýp còn lại là HPV-6,11 là lành tính mà ta thường gọi là những mụn cóc, hạt cơm. Hiện nay, 2 vắc xin này được cấp phép sử dụng cho phụ nữ đặc biệt là phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ. Trong 2 loại thì Gardasil được chỉ định cho phụ nữ lứa tuổi từ 9 đến 25, còn Cervarix được chỉ định cho phụ nữ từ 10 đến 55 tuổi. Trong quá trình làm việc, tôi nhận thấy tỉ lệ phụ nữ ở lứa tuổi cao nhiễm HPV rất cao và đây là lứa tuổi cần thiết để tiêm vắc xin.
* Hiện nay đang có tranh luận rất nhiều về khả năng phòng bệnh ung thư CTC của loại vắc xin Cervarix dành cho lứa tuổi cao, hoặc có ý kiến cho rằng chị em đã quan hệ tình dục rồi thì tiêm vắc xin không có tác dụng. Ý kiến của GS về vấn đề này thế nào?
Qua nghiên cứu chúng tôi thấy rằng khả năng phòng ngừa HPV với phụ nữ lứa tuổi trẻ (9-26 tuổi) và lứa tuổi cao (từ 26 tuổi trở lên) là có bằng chứng khoa học do vắc xin có thể sinh miễn dịch cao ở phụ nữ nhiều lứa tuổi khác nhau, đặc biệt có ý nghĩa với chị em phụ nữ trong lứa tuổi sinh đẻ. Do vậy, theo tôi phụ nữ ở lứa tuổi cao cũng nên tiêm vắc xin này để phòng ung thư CTC. Thực tế, nhiều nước trên thế giới cũng đã sử dụng cho lứa tuổi cao thì chẳng có lí do gì những phụ nữ ở lứa tuổi cao ở nước ta (cụ thể là lứa tuổi từ 26 đến 55 tuổI) lại không thể sử dụng.
Tôi thấy nếu hiểu, đã có quan hệ tình dục rồi thì không nên tiêm vắc xin ung thư CTC là sai. Vấn đề ở đây là dự phòng mắc mới và dự phòng tái nhiễm. Những người đã có quan hệ tình dục thì lây nhiễm cao hơn so với người chưa quan hệ tình dục. Vì vậy, tiêm vắc xin để phòng ngừa HPV cho lứa tuổi đã quan hệ tình dục cũng vẫn rất tốt, ngay cả những trường hợp đã nhiễm rồi vẫn tiêm dự phòng được cho việc tái nhiễm lại.
* Tiếp xúc nhiều với phụ nữ bị ung thư CTC, Giáo sư có khuyến cáo như thế nào với chị em để phòng bệnh và sử dụng vắc xin phòng bệnh?
Vắc xin phòng ung thư CTC chính là vắc xin “cứu cánh” đối với phụ nữ. Theo tôi, chị em nào có điều kiện tiêm phòng thì rất tốt, tiêm để dự phòng không nhiễm mới, tiêm để dự phòng không tái nhiễm và tiêm để những tổn thương tiền ung thư sau điều trị không bị tái phát do tái nhiễm HPV các tuýp 16 và 18. Ở Việt Nam hiện nay, bệnh nhân đến với chúng tôi phần lớn là đã khá muộn do điều kiện kinh tế không cho phép họ thực hiện các chẩn đoán thường xuyên, vì vậy biện pháp tốt nhất để kiểm soát bệnh này là nên tiêm phòng vắc xin. Và để việc phòng bệnh được triệt để tôi khuyên phụ nữ sau khi tiêm phòng nên tiếp tục kiểm tra định kỳ bằng biện pháp soi tế bào cổ tử cung để tránh những trường hợp tổn thương tiền ung thư gây ra bởi những tuýp HPV khác ngoài HPV-16 và 18.
* GS nhìn nhận thế nào về những ý kiến, thông tin trái chiều xung quanh những loại vắc xin ung thư CTC trong thời gian qua?
Đây là những vắc xin mới có mặt trên thế giới được vài năm nên chắc chắn có những tranh cãi và ý kiến khác nhau. Đây là điều bình thường trong khoa học. Tôi cho rằng, vấn đề là cần cung cấp những thông tin một cách rõ ràng để người dân hiểu đúng lợi ích của các biện pháp dự phòng và không mơ hồ hay hoang mang khi quyết định tiêm phòng. Trên thực tế tuy khả năng sinh miễn dịch ở những người lớn tuổi có suy giảm theo quy luật sinh lý chung, nhưng khi được tiêm vắc xin thì vẫn tạo được kháng thể cao và đủ để bảo vệ, chứ không phải là không có tác dụng như một số bài báo đã nói.
Theo Phụ nữ Việt Nam

Để ngừa ung thư cổ tử cung

Gần đây một số cơ sở quảng cáo “đã có văcxin phòng ung thư cổ tử cung (UTCTC)”. Trước áp lực quảng cáo và thông tin không đầy đủ rất dễ tạo sự ngộ nhận: cứ chủng ngừa đủ ba mũi là yên tâm. Vậy bạn làm gì để phòng ngừa UTCTC? BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng (ảnh) - chủ nhiệm bộ môn sức khỏe phụ nữ ĐH Y khoa Phạm Ngọc Thạch, cho biết:

- Hiện có trên 100 type HPV đã được định danh, trong đó có 14 type được xác định là nhóm nguy cơ cao gây UTCTC. Trong nhóm 14 type này, hai type 16 và 18 được xác định “chịu trách nhiệm” khoảng 70% các trường hợp UTCTC ở thế giới cũng như khu vực Đông Nam Á.
Hiện chưa có văcxin ngừa được cho cả 14 type HPV nguy cơ cao mà chỉ ngừa được hai type HPV 16 và 18. Văcxin Gardasil ngừa bốn type HPV 6, 11, 16, 18, nhưng hai type 6,11 thuộc nhóm nguy cơ thấp gây UTCTC, chỉ gây ra mồng gà. Văcxin Cervarix có nghiên cứu bảo vệ chéo với hai type HPV nguy cơ cao là 31, 45 nhưng chưa được các nhà khoa học trên thế giới thừa nhận.
* Như vậy, phải dự phòng UTCTC bằng cách nào?
- Có hai cấp.
Dự phòng cấp 1: ngăn chặn nhiễm HPV ngay từ đầu. Nhiễm HPV mãn tính có thể tiến triển thành tổn thương tiền ung thư (loạn sản) và ung thư. Vậy thì phải tiêm văcxin hoặc... cả đời không quan hệ tình dục, không tiếp xúc tình dục (kể cả quan hệ da qua da). Nhưng tiêm phòng hiện có hai loại văcxin chủ yếu đều là ngừa HPV 16, 18, như vậy chỉ ngừa được 70% các trường hợp UTCTC. Thế còn 30% kia thì sao? Cũng phải làm xét nghiệm tầm soát nhiễm sớm để điều trị sớm.
Dự phòng cấp 2: người đã bị nhiễm cần phát hiện sớm để điều trị sớm, ngăn chặn phát triển thành ung thư xâm lấn. Đối với người đã có gia đình từ ba năm trở lên nên đi xét nghiệm phết tế bào âm đạo cổ tử cung mỗi năm một lần. Nếu như ba lần trong ba năm đều âm tính thì có thể làm ba năm một lần cho đến tuổi 70.
* Xét nghiệm sẽ phát hiện được bao nhiêu phần trăm?
- Người ta thấy cứ làm mỗi năm một lần thì tỉ lệ phát hiện được từ 58-70% , tùy theo việc lấy phết có đúng kỹ thuật và người đọc kết quả có giỏi hay không. Tuy nhiên, diễn biến bình thường từ nhiễm HPV mãn tính qua tổn thương tiền ung thư, rồi đến ung thư thì giai đoạn đó khoảng 10-15 năm. Như vậy mình có 10-15 lần có cơ may phát hiện UTCTC sớm nếu như đi khám, làm xét nghiệm đều đặn mỗi năm.
* Nếu đã tiêm phòng HPV rồi thì có yên tâm?
- Phải khẳng định: phụ nữ còn quan hệ tình dục là còn có thể bị nhiễm HPV.
Dù có tiêm văcxin ngừa HPV nguy cơ cao cũng vẫn phải làm đúng phác đồ: phết tế bào âm đạo cổ tử cung mỗi năm để phát hiện tổn thương tiền ung thư. Nếu ba năm liên tiếp âm tính thì có thể ba năm một lần xét nghiệm cho đến 70 tuổi.
* Vậy BS có gợi ý gì cho phụ nữ?
- Phải tổ chức phết tế bào âm đạo cổ tử cung cho toàn bộ phụ nữ ở thành thị, nông thôn và cả miền núi - mà trong chiến lược chăm sóc sức khỏe sinh sản 2001-2010 Bộ Y tế cũng đã đưa ra.
Đối với dân nghèo thì hướng dẫn để người ta biết cách phòng ngừa. Ví dụ nam bị bệnh mồng gà (tức nhiễm HPV type 6, 11) và có thể nhiễm HPV khác trong nhóm nguy cơ cao, HIV... thì sử dụng bao cao su để phòng bệnh. Trong giáo dục sức khỏe cũng cần hướng tới việc ngăn chặn những yếu tố thuận lợi gây UTCTC như: không quan hệ tình dục sớm, với nhiều người - nhất là những người có nguy cơ cao mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, không sinh đẻ nhiều lần, không hút thuốc lá... Còn đối với những gia đình có khả năng tài chính muốn tiêm văcxin thì cứ tiêm.
Về tuổi tiêm, ở Hoa Kỳ cho phép tiêm từ 9-26 tuổi do có khoảng 50 -70% trẻ trai và gái có quan hệ tình dục ở tuổi 13. Ở VN chưa có một điều tra nào để xác định tuổi này một cách chính xác. Nhưng một vài nghiên cứu sơ bộ ở TP.HCM cũng như ở Hà Nội, tuổi bắt đầu quan hệ tình dục là 15-16. Cho nên ở thời điểm hiện tại khi tiêm văcxin cũng nên tiêm trước tuổi quan hệ. Người ta cũng thấy tiêm văcxin ở tuổi 14-15 thì phản ứng sinh kháng thể mạnh hơn tiêm trễ ở tuổi 25-35.
* Tiêm văcxin phải ba mũi và chỉ bảo vệ được 70% UTCTC trong thời gian bao lâu?
- Theo công bố là khoảng trên 72 tháng nồng độ kháng thể trong huyết thanh không sụt giảm so với năm đầu tiên. Như vậy khả năng còn tồn tại mức kháng thể này có thể lâu hơn, nhưng trong bao lâu hoặc thời gian nào thì phải tiêm nhắc chưa khẳng định được, bởi văcxin chỉ mới được nghiên cứu theo dõi 6-7 năm, còn phải chờ công bố mới của các nhà sản xuất.
* Giả sử một người ở tuổi 40 sắp lấy chồng thì tiêm được không?
- Được chứ. Tuy nhiên ở tuổi lớn thì mức kháng thể sinh ra sẽ không bằng ở tuổi 15-20 .
* Một người 20-25 tuổi, đã quan hệ tình dục, muốn tiêm văcxin có cần xét nghiệm HPV không?
- Không cần xét nghiệm. Tại sao? Vì chỉ một số rất ít đã có quan hệ và bị nhiễm nhóm HPV nguy cơ cao mãn tính. Mà những người đã nhiễm nhóm HPV nguy cơ cao rồi vẫn quan hệ tình dục thì vẫn có thể nhiễm tiếp. Cho nên tiêm sẽ vẫn dự phòng được cho những lần sau này.
* Thưa BS, ở tuổi 45-55 có cần tiêm?
- Ở tuổi 45-55 cho đến 70 ít có quan hệ tình dục thì có thể chỉ cần làm phết tế bào âm đạo cổ tử cung mỗi năm để phát hiện sớm, nếu có tổn thương tiền UTCTC thì điều trị ngay, không ảnh hưởng gì đến sức khỏe. 

Theo TuoiTre

Ung thư cổ tử cung - bệnh do nhiễm virus

Nhiều người nghĩ ung thư chẳng liên quan gì đến bệnh truyền nhiễm; điều đó không đúng với ung thư cổ tử cung. Virus gây u nhú vùng sinh dục - HPV - có thể dẫn đến bệnh này. Vì vậy, quan hệ tình dục không an toàn đồng nghĩa với việc truyền nguy cơ ung thư cho người khác.

"Có nhiều tác nhân dẫn đến ung thư, mà nhiễm virus là một trong số đó; chẳng hạn virus H.pylori có thể dẫn đến ung thư dạ dày, và virus HPV dẫn đến ung thư cổ tử cung" - tiến sĩ Nguyễn Bá Đức, Giám đốc Bệnh viện K Trung ương, nói. Ông cho biết, ung thư cổ tử cung là một trong hai loại ung thư mà phụ nữ Việt Nam hay mắc nhất; trong đó có đến 70-80% số trường hợp là do virus HPV.

HPV - Human papilloma virus - là loại virus gây mụn cơm, mụn cóc và các sùi mào gà (các u nhú) ở da, dương vật, âm hộ, hậu môn..., dẫn đến viêm da lành tính, hoặc viêm cơ quan sinh dục dẫn đến vô sinh. Trong hơn 100 chủng HPV, có 13 chủng dẫn đến ung thư.

Quá trình diễn tiến từ nhiễm virus đến ung thư thường lâu dài, từ loạn sản nhẹ, vừa, nặng đến ung thư tại chỗ (giai đoạn tổn thương có thể phục hồi và chữa khỏi hoàn toàn) đến ung thư xâm lấn (không có khả năng phục hồi). Không phải ai nhiễm các chủng HPV "độc" cũng bị ung thư cổ tử cung. Bệnh này thường xuất hiện khi có thêm các yếu tố nguy cơ như quan hệ tình dục sớm, nhiều bạn tình, vệ sinh kém, suy giảm miễn dịch, đẻ, nạo hút hay sẩy thai nhiều lần... Những tổn thương này tạo điều kiện cho virus HPV dễ tiếp cận hơn với lớp tế bào đáy cổ tử cung, vốn nằm sâu bên dưới. Sau khi xâm nhập, HPV gây biến đổi các tế bào này. Trải qua nhiều năm, tế bào trở thành ác tính.

Theo điều tra của Cơ quan nghiên cứu ung thư quốc tế, tỷ lệ nhiễm HPV của phụ nữ toàn cầu dao động trong khoảng 9-13%, nghĩa là cứ 10 phụ nữ thì một bị nhiễm HPV. Virus chủ yếu lây qua da và quan hệ tình dục. Như vậy, khi thực hiện quan hệ tình dục không an toàn, người mang virus này đã truyền nguy cơ ung thư sang cho người khác.

Ở Việt Nam, nếu chỉ tính riêng ung thư cổ tử cung thì số người chết vì HPV đã cao hơn nhiều so với HIV. Trong 10 năm qua có khoảng 6.000 phụ nữ chết vì ung thư cổ tử cung, cao gấp đôi số phụ nữ chết vì bệnh AIDS; mặc dù khác với HIV, các tổn thương do HPV, thậm chí ung thư, có thể chữa khỏi hoàn toàn nếu được phát hiện sớm. Tuy nhiên trên thực tế ở Việt Nam, phần lớn bệnh nhân ung thư cổ tử cung chỉ được phát hiện bệnh ở giai đoạn cuối, vài năm trước khi qua đời.

Tiến sĩ Nguyễn Bá Đức cho biết, khi ung thư chưa xâm lấn, bệnh nhân hầu như không có dấu hiệu lâm sàng, có thể ra nhiều khí hư hơn bình thường, khám phụ khoa cũng không thấy tổn thương. Tuy nhiên, nếu người phụ nữ thường xuyên khám phụ khoa đúng định kỳ và làm xét nghiệm tế bào (được khuyến cáo với tất cả những phụ nữ có quan hệ tình dục), bệnh sẽ được phát hiện. Lúc này, khả năng chữa khỏi là 95%.

Khi ung thư đã xâm lấn, các triệu chứng mới rõ rệt như ra khí hư có mùi hôi, ra máu giữa kỳ kinh, sau mãn kinh hay sau giao hợp... Ở giai đoạn cuối, bệnh nhân có thể đau bụng dưới, đau lưng, tỷ lệ sống thêm 5 năm chỉ còn khoảng 5%.

Theo tiến sĩ Đức, do nguyên nhân gây bệnh chủ yếu là virus nên ung thư cổ tử cung có thể dự phòng bằng văcxin, hiện đã được dùng ở nhiều nước với hiệu quả khoảng 70%. Tiến sĩ Nguyễn Trần Hiển, Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương cho biết, dự kiến cuối năm nay, văcxin này cũng sẽ được thử nghiệm ở Việt Nam trên một số phụ nữ tuổi 9-26. Ngoài ung thư, văcxin này cũng giúp tránh các tổn thương khác do virus HPV như mụn cóc, sùi mào gà...

Tuy nhiên, các chuyên gia khuyến cáo, việc sử dụng văcxin không thể thay thế các biện pháp phòng ngừa khác như giữ vệ sinh cơ thể và vệ sinh tình dục, khám phụ khoa định kỳ. Phụ nữ đã có quan hệ tình dục thường xuyên nên làm xét nghiệm phiến đồ âm đạo hằng năm hay tối thiểu 3 năm một lần, nhất là với người ngoài 35 tuổi. Với những phụ nữ có các yếu tố nguy cơ cao (nhiễm virus HPV, nhiều bạn tình, quan hệ sớm, nạo hút, sinh nở hay sẩy thai nhiều lần...), cần làm xét nghiệm mỗi năm.

Theo thuvienkhoahoc

Phòng tránh ung thư cổ tử cung khi còn trẻ

Bạn có biết một người phụ nữ có tới 70% nguy cơ nhiễm vi rút u nhú (HPV), một trong những nguyên nhân gây nên căn bệnh ung thư cổ tử cung nguy hiểm. Tuy nhiên, phòng tránh bệnh hiệu quả là điều hoàn toàn có thể làm được.
1. Sống chung thuỷ 1 vợ 1 chồng

Trên thực tế, nếu một người phụ nữ có nhiều bạn tình, khả năng lây nhiễm vi rút HPV càng cao. Họ có thể lây nhiễm vi rút này từ người đàn ông này hoặc người đàn ông khác. Hãy chung thuỷ 1 vợ  1 chồng là cách phòng tránh an toán các căn bệnh lây lan qua đường tình dục như HIV/AIDS, viêm gan B, vi rút HPV…

2. Không quan hệ sớm

Quan hệ sớm (ở tuổi dậy thì) là một trong những yếu tố làm tăng nguy cơ lây nhiễm vi rút HPV. Cơ thể của các em gái trong giai đoạn này tự bảo vệ rất kém trước sự tấn công của các vi rút gây bệnh. Các bệnh lây lan quan đường tình dục ở lứa tuổi này cũng nhanh hơnh do các màng nhầy đang ở giai đoạn vô cùng nhạy cảm.

3. Bao cao su không thể tránh được lây nhiễm vi rút HPV tuyệt đối

Bạn nên nhớ bao cao su không phải là biện pháp tối ưu giúp bạn miễn nhiễm với loại vi rút này vì trên thực tế không không chỉ sống trong màng nhầy mà còn sống ở cả trên da.

4. Không hút thuốc lá

Ngay cả khi không bị nhiễm vi rút HPV, thuốc lá cũng tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư cổ tử cung cho người sử dụng. Trên thực tế, các chất trong thuốc lá sẽ ngấm vào máu và sẽ được bài xuất ra cổ tử cung, tạo môi trường thuận lợi cho bệnh tật phát triển. Càng hút nhiều thuốc, người sử dụng càng gặp nhiều nguy cơ mắc bệnh. Những phụ nữ đã hút thuốc hoặc đang hút thuốc có nguy mắc ung thư cổ tử cung cao hơn 2 – 3 lần so với những phụ nữ chưa bao giờ hút thuốc lá.

5. Không nên dùng viên tránh thai hooc-môn

Nếu sử dụng viên tránh thai hooc-môn trong một thời gian dài, chị em có nguy cơ mắc bệnh ung thư cổ tử cung. Tuy nhiên loại thuốc tránh thai này lại làm giảm nguy cơ mắc các bệnh ung thư khác như ung  thư buồng trứng…

Theo thống kê tại Pháp, cứ 1.000 người dùng biện pháp tránh thai này thì có 4,5 người bị ung thư cổ tử cung, trong khi đó tỉ lệ này ở những chị em không dùng viên tránh thai hooc-môn là 3,8/1.000 người.

6. Nói không với rượu

Rượu không chỉ làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư cổ tử cung cho người dùng, mà còn tăng nguy cơ mắc nhiều loại ung thư khác: ung thư gan, ung thư dạ dày…

7. Tiêm vắc-xin trước lần quan hệ đầu tiên

Các nhà nghiên cứu cho biết, tiêm vắc-xin phòng bệnh trước lần quan hệ đầu tiên cho phép chị em phòng bệnh được tới 70% nguy cơ. Nhiều năm sau cần phải tiêm lại, tuy nhiên cho đến nay hiệu quả của loại vac-xin này kéo dài trong ít nhất là 4 - 5 năm.

8. Thăm khám phụ khoa định kỳ

Ngay cả khi bạn đã tiêm vắc-xin, hãy đến khám bác sỹ phụ khoa theo định kỳ. Bác sỹ sẽ cho bạn những lời khuyên hữu ích về cách phòng tránh và nhận biết dấu hiệu của bệnh. Phát hiện ra bệnh sớm cũng là một trong những điều kiện quan trọng giúp việc điều trị bệnh nhanh và hiệu quả.


Theo Santé

Đôi Điều Về Bệnh Ung Thư Tử Cung

Đào Hoàng
1/ Ung thư tử cung nguy hiểm nhưng dễ phòng
Mỗi năm trên thế giới có khoảng nửa triệu phụ nữ tử vong vì ung thư sinh dục; một trong những thủ phạm chính là ung thư tử cung. Tuy nhiên, bệnh này có thể chẩn đoán sớm và điều trị tốt nếu bạn đi khám định kỳ đều đặn.

Ung thư tử cung được chia làm hai loại: ung thư thân tử cung và ung thư cổ tử cung. Nếu bị ở cả hai bộ phận đó thì gọi là ung thư tử cung. Bệnh thường gặp ở phụ nữ tuổi 50-60, hiếm gặp ở phụ nữ không sinh hoạt tình dục.
Nguyên nhân gây bệnh chưa thật rõ ràng. Người ta thấy bệnh ung thư cổ tử cung liên quan đến những kích thích từ bên ngoài như sinh hoạt tình dục sớm, sinh nở nhiều lần, nạo phá thai nhiều, nhiễm các bệnh lây qua đường tình dục. Các nghiên cứu đều cho thấy tỷ lệ mắc bệnh cao ở những phụ nữ tảo hôn và sinh con quá sớm (trước 18 tuổi). Đặc biệt, ở gái mại dâm, phụ nữ tái hôn trên 3 lần và phụ nữ bị viêm loét cổ tử cung, nguy cơ ung thư sẽ cao gấp 7 lần so với người bình thường. Một nhân tố khác liên quan đến ung thư cổ tử cung là sinh hoạt tình dục sớm khi cổ tử cung chưa hồi phục hoàn toàn (khi hành kinh, đẻ, sảy, nạo hút thai, đặt vòng, tháo vòng).
Ung thư thân tử cung thường liên quan đến các yếu tố nội tiết và bệnh toàn thân như: vô sinh, vô kinh, không rụng trứng, kinh nguyệt bất thường, quá béo, tăng huyết áp, tiểu đường... Các tình trạng trên làm chức năng của buồng trứng mất điều hoà, dẫn tới tăng tiết oestrogen - nguyên nhân dẫn tới ung thư thân tử cung.
Triệu chứng sớm của ung thư tử cung thường nghèo nàn. Chủ yếu người bệnh thấy ra máu bất thường ngoài kỳ kinh, rối loạn kinh nguyệt và tiền sử kinh nguyệt ra nhiều, khí hư lẫn máu... Nếu không khám phụ khoa định kỳ và làm các xét nghiệm chẩn đoán sớm thì thường không nhận biết bệnh ở giai đoạn sớm.
Tuy nhiên, nếu đi khám định kỳ đều đặn và tránh các yếu tố nguy cơ nói trên, bạn sẽ tự làm giảm khả năng mắc bệnh của mình và nếu có thì cũng được phát hiện sớm, điều trị kịp thời.
2/ Phụ nữ đa tình dễ bị ung thư cổ tử cung Ung thư cổ tử cung chiếm hàng đầu trong các bệnh ung thư sinh dục nữ, thường gặp ở lứa tuổi 36-50, hiếm gặp ở phụ nữ trẻ, nhất là các trinh nữ. Nguy cơ mắc bệnh thường cao hơn ở những người có nhiều bạn tình.
Nguyên nhân trực tiếp của ung thư cổ tử cung đến nay vẫn chưa rõ. Tuy nhiên, đã có những bằng chứng thuyết phục về các yếu tố nguy cơ: bệnh xuất hiện nhiều hơn ở phụ nữ đã có chồng, đặc biệt là người lấy chồng sớm, quan hệ tình dục sớm, có nhiều bạn tình hoặc chồng có quan hệ tình dục với nhiều người. Phụ nữ đẻ nhiều lần, có mức thu nhập thấp, nhiễm virus sinh dục sớm hoặc nghiện thuốc lá... cũng dễ mắc bệnh hơn so với người bình thường.
Trong giai đoạn đầu, bệnh nhân ra khí hư hoặc máu bất thường ở âm đạo, kinh nguyệt kéo dài, dai dẳng, ra máu sau khi giao hợp hoặc khí hư có lẫn máu, mùi hôi. Ở giai đoạn muộn, khí hư có máu nhiều hơn và rất hôi. Người bệnh đau bụng, có thể sờ thấy u ở bụng, một số trường hợp suy thận khi u chèn ép niệu quản. Hãn hữu có trường hợp phân và nước tiểu đi qua đường âm đạo do u xâm lấn làm thủng bàng quang, trực tràng, phải đi cấp cứu.
Khi khám bệnh, có thể phát hiện bằng mắt thường những biến đổi bất thường của cổ tử cung: màu sắc, chảy máu, loét hoặc u sùi... Tuy nhiên, để biết chắc, phải xét nghiệm tế bào học và mô bệnh học.
Ung thư cổ tử cung thường diễn biến qua nhiều năm, kể từ khi phát triển tại chỗ đến khi có dấu hiệu để bệnh nhân đi khám. Khi bệnh đã rõ thì ung thư tiến triển nhanh, lan rộng trực tiếp vào âm đạo và di căn tới những cơ quan khác như đường bạch huyết, gan, tuỵ, phổi, não..
Về điều trị, ở giai đoạn sớm, có thể khoét chóp cổ tử cung lấy hết tổn thương và theo dõi, nếu còn tổn thương sẽ cắt toàn bộ tử cung. Ở giai đoạn muộn thì phải cắt bỏ tử cung, kết hợp điều trị bằng tia xạ, dùng hoá chất phối hợp... Để phòng bệnh, cần hạn chế tối đa các nguy cơ gây bệnh nêu trên, sàng lọc phát hiện ung thư sớm cổ tử cung qua khám phụ khoa và làm phiến đồ âm đạo.
Tỷ lệ chữa khỏi ung thư cổ tử cung ở giai đoạn sớm là 90%. Nếu phải cắt bỏ tử cung toàn phần cũng không ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ và quan hệ tình dục.
3/ Những thắc mắc thông thường
Hỏi:
Thỉnh thoảng tôi bị ra máu ở âm đạo ngoài kỳ kinh, đó có phải là chuyện bất thường không?

Đáp: Ra máu âm đạo bất thường bao gồm các hiện tượng như ra máu ít giữa 2 kỳ kinh (thường nhận thấy sau khi đi tiểu) hoặc ra máu nhiều khi hành kinh, đến mức băng vệ sinh ướt sũng ngay giờ đầu. Mọi trường hợp ra máu âm đạo kéo dài hàng tuần cũng bị coi là bất thường.
Các bệnh hay gây ra máu âm đạo bao gồm: rối loạn kinh nguyệt, viêm âm đạo, giãn tĩnh mạch âm hộ, có khối u, pô líp hay u xơ ở âm đạo, cổ tử cung, tử cung hay vòi trứng, bệnh lộn cổ tử cung (hay gặp ở phụ nữ trẻ, nhất là người dùng viên tránh thai), ung thư ở tử cung, cổ tử cung, âm đạo hay âm hộ, các biến cố thai nghén như doạ sẩy thai, thai chết lưu...
Nếu ở tuổi tiền mãn kinh, việc ra máu nhẹ trong vài ngày trước khi thấy kinh là bình thường và không đáng lo. Người dùng viên tránh thai cũng có thể ra máu bất chợt trong vài tháng đầu.
Người ở tuổi mãn kinh, sau mãn kinh và đang điều trị bằng hoóc môn thay thế có thể bị chảy máu do ngừng thuốc (giống như ra kinh)trong vài ngày (nếu hiện tượng ra máu có đặc điểm khác biệt thì nên hỏi ý kiến bác sĩ). Ở những người này, việc ra máu ít trong 6 tháng đầu là bình thường; chỉ cần đi khám nếu hiện tượng đó kéo dài quá 6 tháng hoặc máu bắt đầu ra nhiều. Nếu đã ở tuổi mãn kinh hoặc sau mãn kinh và không điều trị bằng hoóc môn thay thế nhưng vẫn ra máu thì cần đi khám ngay.
Hầu hết các trường hợp ra máu âm đạo ngoài kỳ kinh đều do bệnh phụ khoa lành tính. Ở phụ nữ tiền mãn kinh, đó thường là biểu hiện dao động hoóc môn chứ không phải ung thư. Ở phụ nữ đã mãn kinh, ra máu âm đạo có thể do ung thư phụ khoa nhưng cũng có thể do bệnh lành tính.
Bạn nên đi khám phụ khoa để được xác định nguyên nhân và có hướng điều trị hợp lý.
Hỏi: Viêm âm đạo kéo dài có dẫn đến ung thư thử cung không? “Tôi bị viêm âm đạo do nấm 2 năm nay. Tôi đã uống và đặt thuốc một thời gian mà không khỏi. Tôi mới thay 2 loại thuốc khác nhưng bệnh lại nặng thêm. Mắc bệnh lâu ngày như vậy có dẫn đến ung thư tử cung không? Trong thời gian đặt thuốc có quan hệ vợ chồng được không? Nên chữa trị như thế nào?”.
Đáp: Viêm âm đạo không phải là ung thư nhưng những tổn thương mạn tính kéo dài nhiều năm tại âm đạo và cổ tử cung có thể tạo điều kiện cho ung thư phát sinh và phát triển. Tuy vậy, không phải ai bị viêm âm đạo lâu ngày cũng bị ung thư.
Về điều trị viêm âm đạo bạn cần chú ý:
- Phải xác định rõ mầm bệnh gây viêm thuộc loại gì để chọn thuốc điều trị thích hợp.
- Người bệnh phải tăng cường giữ vệ sinh bằng việc giội rửa (để rửa đến đâu, chất bẩn trôi đi đến đấy) nhiều lần trong ngày. Cần giội rửa bằng nước sạch hoặc nước pha thuốc sát trùng theo chỉ định của bác sĩ. Quần, nhất là quần lót, phải được giặt sạch, ngâm nước sôi để diệt hết nấm bệnh.
- Cần điều trị cả cho chồng vì các nguyên nhân gây viêm âm đạo có thể sinh sống tại đường sinh dục của người chồng và sẽ gây tái nhiễm cho người vợ khi đã được điều trị khỏi.
- Trong thời gian đặt thuốc, không nên có quan hệ vợ chồng. Nếu không giữ được thì nên sử dụng bao cao su.

Theo .machsong

Ung thư tử cung nguy hiểm nhưng dễ phòng

Mỗi năm trên thế giới có khoảng nửa triệu phụ nữ tử vong vì ung thư sinh dục; một trong những thủ phạm chính là ung thư tử cung. Tuy nhiên, bệnh này có thể chẩn đoán sớm và điều trị tốt nếu bạn đều đặn đi khám định kỳ.
Ung thư tử cung được chia làm hai loại: ung thư thân tử cung và ung thư cổ tử cung. Nếu bị ở cả hai bộ phận đó thì gọi là ung thư tử cung. Bệnh thường gặp ở phụ nữ tuổi 50-60, hiếm gặp ở phụ nữ không sinh hoạt tình dục.
Nguyên nhân gây bệnh chưa thật rõ ràng. Người ta thấy bệnh ung thư cổ tử cung liên quan đến những kích thích từ bên ngoài như sinh hoạt tình dục sớm, sinh nở nhiều lần, nạo phá thai nhiều, nhiễm các bệnh lây qua đường tình dục. Các nghiên cứu đều cho thấy tỷ lệ mắc bệnh cao ở những phụ nữ tảo hôn và sinh con quá sớm (trước 18 tuổi). Đặc biệt, ở gái mại dâm, phụ nữ tái hôn trên 3 lần và phụ nữ bị viêm loét cổ tử cung, nguy cơ ung thư sẽ cao gấp 7 lần so với người bình thường. Một nhân tố khác liên quan đến ung thư cổ tử cung là sinh hoạt tình dục sớm khi cổ tử cung chưa hồi phục hoàn toàn (khi hành kinh, đẻ, sảy, nạo hút thai, đặt vòng, tháo vòng).
Ung thư thân tử cung thường liên quan đến các yếu tố nội tiết và bệnh toàn thân như: vô sinh, vô kinh, không rụng trứng, kinh nguyệt bất thường, quá béo, tăng huyết áp, đái đường... Các tình trạng trên làm chức năng của buồng trứng mất điều hòa, dẫn tới tăng tiết oostrogen - nguyên nhân dẫn tới ung thư thân tử cung.
Triệu chứng sớm của ung thư tử cung thường nghèo nàn. Chủ yếu người bệnh thấy ra máu bất thường ngoài kỳ kinh, rối loạn kinh nguyệt và tiền sử kinh nguyệt ra nhiều, khí hư lẫn máu... Nếu không định kỳ khám phụ khoa và làm các xét nghiệm chẩn đoán sớm thì thường không nhận biết bệnh ở giai đoạn sớm.
Tuy nhiên, nếu đi khám định kỳ đều đặn và tránh các yếu tố nguy cơ nói trên, bạn sẽ tự làm giảm khả năng mắc bệnh của mình và nếu có thì cũng được phát hiện sớm, điều trị kịp thời.
BS Phạm Phương Anh, Sức Khỏe & Đời Sống
 
Điều Trị Cao Huyết Áp. Design by MM24/7 Templates.